E-mail        Print        Font-size  
  • Tác phẩm nghệ thuật nhìn từ góc độ ký hiệu học





    Mặc dù đã nhiều lần được đề cập đến trong các tác phẩm nghiên cứu của các triết gia từ thời Cổ, Trung Đại, song phải đến thế kỷ XIX, những thuật ngữ ký hiệu, dấu hiệu, biểu tượng mới được xem xét và nghiên cứu một cách cẩn thận. Những quan điểm về ký hiệu với mô hình “bộ đôi” (cái biểu đạt – cái biểu đạt) của Ferdinand de Saussure (1857-1913) hay “bộ ba” tam giác (cái đại diện, cái diễn đạt và đối tượng) của Charles Sander Peirce (1839-1914) là nền tảng để xây dựng nên Ký hiệu học – khoa học về các ký hiệu – được kế thừa bởi những tên tuổi như Roman Jakobson, Roland Barthes, Iuri Mikhailovich Lotman, Raymond Firth, Umberto Eco…

     


    Mô hình ký hiệu của Saussure (phải): và Peirce (trái)

    Nguồn: http://thedsproject.com/portfolio/david-scotts-semiotics/

    Ký hiệu, hiểu theo nghĩa chung nhất là một khái niệm rộng lớn bao hàm tất cả những dấu chỉ, tín hiệu, sự vật, hiện tượng, lời nói, cử chỉ, hành động... có tính thông tin, hay nói cách khác, ký hiệu liên quan tới mọi yếu tố có khả năng biểu đạt một ý nghĩa. Do đó, không chỉ ngôn ngữ, mà kể cả ký hiệu trong khoa học, tín hiệu giao thông, biển báo, âm nhạc, phim ảnh, tranh vẽ, huyền thoại, biểu tượng văn hóa… đều là những hệ thống ký hiệu. Ở cấp độ cơ bản, mỗi ký hiệu bao gồm hai yếu tố: một là vỏ vật chất (hình thức) và hai là thông tin gợi nên từ vỏ vật chất đó (nội dung/cái được biểu đạt). Về bản chất, ký hiệu tồn tại những đặc tính như: tính vật chất, tính hai mặt, tính khu biệt và tính võ đoán.

    Xem xét trong lĩnh vực nghệ thuật, chúng ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp những hệ thống ký hiệu biểu đạt vô cùng phong phú, đa dạng và có tính đặc trưng riêng cho từng loại hình, chúng được gọi bằng cái tên chung là ký hiệu nghệ thuật. Vai trò của hệ thống ký hiệu này trong tác phẩm chính là hình thành nên hình tượng nghệ thuật, giúp truyền tải những thông điệp về mặt thẩm mỹ, nhân văn đến với người thưởng thức. Khác với những hệ thống ký hiệu khác như ký hiệu ngôn ngữ hay ký hiệu thị giác thông thường, ký hiệu nghệ thuật là sản phẩm của “cuộc hành trình sáng tạo” [1, tr.5] thông qua cách thức, phương tiện, thủ pháp chuyên biệt, đặc thù của bản thân nghệ thuật ấy. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu ký hiệu nghệ thuật (hay còn gọi là ký hiệu học nghệ thuật) trở nên một công việc quan thiết ảnh hưởng trực tiếp đến khuynh hướng, chất lượng sáng tác cũng như thưởng thức nghệ thuật. Thông qua lăng kính khoa học, bản chất và các quy luật nội tại cũng như khách quan của nghệ thuật dần dần được làm sáng tỏ.

    Dưới góc nhìn của ký hiệu học, tác phẩm nghệ thuật nói chung cũng như quá trình sáng tác và tiếp nhận tác phẩm có thể được nhìn nhận ở 3 quan điểm sau:

    Tác phẩm nghệ thuật là văn bản chứa đựng hệ thống những ký hiệu:

    Nếu như “văn bản” hiểu theo nghĩa hẹp là sản phẩm của hành vi tạo lời hay phát ngôn thể hiện dưới hình thức âm thanh hay chữ viết, thì nghĩa rộng của khái niệm này lại là: “Cái gì được diễn đạt ra, được truyền bá để giao tiếp đều có thể xem là văn bản” hay nói cách khác: “là tất cả những cái gì tồn tại trong xã hội chứa đựng những hệ thống ký hiệu nhằm đạt một sự giao tiếp xã hội” [5, tr.57].

    Chính vì vậy, một tác phẩm nghệ thuật có thể được xem là một văn bản bao gồm những yếu tố tạo hình, chất liệu, cách thức thể hiện cho đến những ẩn dụ, diễn giải văn học, biểu tượng, niềm tin, quan điểm cá nhân… được đan cài một cách có chủ đích. Bản thân các thành tố này là những ký hiệu xoay quanh nội dung là chủ đề, thông điệp của tác phẩm. Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, góp phần tạo nên rung động thẩm mỹ lẫn dẫn dắt sự liên tưởng nơi người tiếp nhận.

    Tuy nhiên, một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, thường không đơn thuần chỉ là một “thông tin sơ giản” được chuyển từ nơi phát tới người nhận, trái lại, bản thân chúng có khả năng “gia nhập vào các quan hệ phức tạp với cả ngữ cảnh văn hóa bao bọc quanh nó, lẫn công chúng độc giả” và làm thay đổi thông tin cũng như tạo ra những thông tin mới. I. Lotman đã ưu ái gọi khả năng này là “phẩm chất của một trí tuệ” có thể “chiếm hữu và sở đắc ký ức” [2, tr. 54].


    Tranh khảm Byzantine ở nhà thờ Chánh tòa Monreale, Sicily, khoảng 1190 s.CN

    Nghệ thuật Byzantine là ví dụ điển hình cho việc sử dụng hệ thống những ký hiệu, biểu tượng được quy ước bởi Giáo hội phổ quát, nhằm truyền tải thông điệp về Thần học một cách rõ ràng và hiệu quả. Bản thân mỗi tác phẩm là một “văn bản thần học kinh điển” được tạo hình dựa trên truyền thống nghệ thuật Đông phương cổ đầy tính ước lệ, tượng trưng, kết hợp với một số kỹ thuật tạo hình kế thừa từ Hy Lạp – La Mã; cho phép người xem cảm nhận được thông điệp kỳ diệu và linh thiêng đang xảy ra nơi mỗi bức tranh. Cụ thể đó là sự diễn tả về “cái lý” của những thực thể vốn không “thật” (ám chỉ Thượng Đế), chỉ tồn tại trong thế giới siêu hình, vượt quá không gian, thời gian, tính hư hoại và cái chết của những thực thể hữu hình.

    Quá trình sáng tạo là quá trình sử dụng – sản sinh ra những ký hiệu nghệ thuật

    Quan điểm này về cơ bản không có gì mới so với những hiểu biết của chúng ta về quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Trước hiện thực khách quan, người nghệ sĩ tự do lựa chọn và thể hiện chất liệu, hình thức tác phẩm theo cách mà anh ta cảm thấy phù hợp nhất. Anh ta cũng có thể sử dụng những ước thác, quy tắc, ký hiệu, hệ thống biểu tượng từ nền văn hóa mà anh ta lĩnh hội được. Những ký hiệu, biểu tượng này khi xuất hiện trong tác phẩm có thể cùng gia cố, kết hợp với các các yếu tố tạo hình, tạo nghĩa khác nhằm hình thành nên chuỗi tư duy logic, gợi nhắc người thưởng thức đến chủ đề. Vấn đề chúng ta cần ghi nhận thêm ở đây là ngoài chuyện sử dụng, người họa sĩ còn trực tiếp sáng tạo ra những ký hiệu, biểu tượng mới. Dần dần, trong quá trình tiếp nhận, các ký hiệu này có thể được xã hội thừa nhận, để rồi chúng lại tiếp tục gia nhập vào vốn ký hiệu phong phú mà người đi sau có thể sử dụng.

    Tác giả Đinh Hồng Hải trong bài viết: Tính biểu tượng trong nghệ thuật: Một vài cảm nhận về những sáng tác mới của các họa sĩ trẻ Việt Nam đương đại [6] cũng chú ý đến vấn đề này khi cho rằng: yếu tố cần thiết để hình thành nên tác phẩm nghệ thuật chính là nền tảng xã hội. Bằng ngôn ngữ biểu tượng, người nghệ sĩ sử dụng những chất liệu xã hội đó để hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật theo tiến trình:

    Thực tại xã hội → Tính biểu tượng → Tác phẩm

    Trên cơ sở những quan sát, ghi nhận từ hiện thực, con người rút ra bản chất của chúng, tưởng tượng cũng như quy cho chúng những giá trị tượng trưng. Một lần nữa, người họa sĩ sử dụng những biểu tượng đó, sắp xếp chúng để tiếp tục nói lên một ý nghĩa khác, một mặt khác của con người, của cuộc đời. Có cảm giác như, tác phẩm nghệ thuật chính là lần “mã hóa” thứ hai của thiên nhiên trước khi diện kiến người thưởng ngoạn.
     


    Andy Warhol, 100 cans, 1962, Oil on canvas, 72 inches x 52 inches, Albright–Knox Art Gallery,Buffalo, NY. Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Campbell%27s_Soup_Cans

    Những lon súp Campbell của nghệ sĩ Pop Art Andy Warhol (1928-1987) trên thực tế lấy ý tưởng từ việc nhà quảng cáo sử dụng hình ảnh sản phẩm một cách liên tục nhằm khuyến khích việc mua sản phẩm đó. Bằng cách lặp lại một cách cơ học những lon súp giống nhau – chỉ thay tên thành phần – Andy Warhol nhận ra có thể làm tiêu tan ý ành thứ “vô bản chất”, “vô giá trị” và làm tê liệt giác quan của người xem. Mặt khác, việc lựa chọn hình ảnh gần như là “biểu tượng” quen thuộc hàng ngày đối với người dân Mỹ cho thấy góc nhìn của Andy Warhol về xã hội công nghiệp cũng như văn hóa tiêu dùng Mỹ những năm 60.

    Quá trình tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật là quá trình giải mã – giao tiếp với văn bản

    Những lon súp Campbell của nghệ sĩ Pop Art Andy Warhol (1928-1987) trên thực tế lấy ý tưởng từ việc nhà quảng cáo sử dụng hình ảnh sản phẩm một cách liên tục nhằm khuyến khích việc mua sản phẩm đó. Bằng cách lặp lại một cách cơ học những lon súp giống nhau – chỉ thay tên thành phần – Andy Warhol nhận ra có thể làm tiêu tan ý nghĩa của chúng, biến những lon súp trở thành thứ “vô bản chất”, “vô giá trị” và làm tê liệt giác quan của người xem. Mặt khác, việc lựa chọn hình ảnh gần như là “biểu tượng” quen thuộc hàng ngày đối với người dân Mỹ cho thấy góc nhìn của Andy Warhol về xã hội công nghiệp cũng như văn hóa tiêu dùng Mỹ những năm 60.

    Như trên đã nói, một tác phẩm hiện lên trước mắt người xem không giống như một bản văn tường thuật hay thông báo bằng ngôn ngữ, trái lại đó là một kiến tạo phức tạp, chứa đựng những mã khóa đa dạng, có khả năng biến hóa các thông tin tự thân và làm nảy sinh những thông tin mới [2, tr.60]. Điều này lý giải tại sao cùng một tác phẩm lại có thể mang đến nhiều cách kiến giải khác nhau, tùy vào đối tượng hay thời điểm tiếp nhận, và đôi khi việc diễn giải nghệ thuật gần như “bị lệ thuộc vào sự diễn giải tâm lí học” [4]. Chính vì vậy mà mối quan hệ giữa tác phẩm (văn bản) với công chúng (người tiếp nhận văn bản) cũng cần phải điều chỉnh. Thay vì công thức người tiếp nhận giải mã văn bản, chúng ta cần một công thức chính xác hơn: người tiếp nhận giải mã và giao tiếp với văn bản. Trong mối quan hệ “giao tiếp” này, bản thân văn bản tiếp tục (được) dẫn dắt (bởi) người tiếp nhận đến với những nội dung, câu chuyện khác ngoài nội dung hay chủ đề đã được định hướng ban đầu. Thực tế cho thấy, nghệ thuật - thế giới đầy ắp các văn bản đang đổi thay từng ngày đã dẫn đến kết quả là quá trình giải mã văn bản cũng ngày càng trở nên vô cùng phức tạp. Chúng hoàn toàn đánh mất đi tính một chiều và hữu hạn để tiến tới một hoạt động không ngừng – hoạt động “giao tiếp ký hiệu giữa con người với một cá nhân tự quyết, độc lập khác” [2, tr.60].

     


    Nguồn:http://english1312section078fall2012.pbworks.com/

    Hình minh họa bên trái cho thấy sự phức tạp đa tầng của “tảng băng ngầm” ký hiệu. Ẩn sâu bên dưới mỗi hình ảnh, sự vật mang tính biểu tượng “có thể nhìn thấy được” chứa đựng rất nhiều yếu tố liên quan đến ý thức hệ (ideologies), niềm tin cố hữu (persistent beliefs), những giả định (assumptions), luân lý đạo đức (morals and more), thái độ phổ quát (prevalent attitudes) v.v… Khi ký hiệu này được đưa vào trong tác phẩm nghệ thuật, nó có thể tiếp tục được giải nghĩa với sự tác động của từng ấy yếu tố, nhưng ở một hệ quy chiếu khác (là hệ quy chiếu của đối tượng tiếp nhận).

    Cũng cần phải nói thêm, với khái niệm intertextualité (tính liên văn bản) mà Julia Kristeva đề ra [2, tr.59] thì rõ ràng cả người sáng tác lẫn người thưởng thức đều là những nhân tố thao tác giữa những mạng văn bản, đồng thời liên tưởng, chọn lựa, phối kết và sáng tạo ra những văn bản mới của riêng mình. Vì thế mà trong phê bình, nghiên cứu văn học nghệ thuật nói chung hiện nay, vai trò của chủ thể người tiếp nhận cũng ngày càng được chú trọng vì đây chính là nơi sản sinh ra những cách “đọc” mới cho văn bản, làm phong phú và giàu có thêm hàm nghĩa của nó, khiến cho sức sống của tác phẩm không ngừng được sinh sôi, nảy nở.

     


    David Hockney, A Lawn Being Sprinkle, 1967, Acrylic, 153x153 cm,

    Một bức tranh có vẻ như khá đơn giản của David Hockney: bãi cỏ xanh được tưới nước tự động. Một người xem tranh có thể cảm nhận tinh thần Pop Art đậm nét: sự nhất thời, khoảnh khắc thoảng qua, phổ biến. Một người khác có thể nhìn thấy sự lặp lại của những vòi nước mang tính cơ học, công nghiệp và việc thiếu vắng con người là ẩn dụ cho xã hội công nghiệp Mỹ. Người khác có thể liên tưởng sâu xa hơn với ám chỉ về sự mời gọi của một green pastures (bãi chăn thả xanh rờn) [3,tr.534-537], là thiên đường do Thượng Đế tạo ra, nơi con người có thể hưởng một cuộc sống đủ đầy…

    Đây là ví dụ cơ bản cho việc một tác phẩm có thể dẫn dắt người xem đến nhiều liên tưởng khác nhau.

    Thay lời kết:

    Có thể nói, kết quả của những nghiên cứu ký hiệu học ở thế kỷ XIX, XX dẫn đến việc ngày hôm nay chúng ta phải nhìn nhận tầm ảnh hưởng bao trùm của các yếu tố ký hiệu, biểu tượng trong hầu hết những lãnh địa của văn hóa như ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo… Thậm chí đến mức như C. Lévi – Strauss, người sáng lập ngành nhân chủng học cấu trúc đã đưa ra kết luận cuối cùng về một thứ “Ký hiệu toàn cầu”. Bản thân ông nhìn toàn bộ hiện thực xã hội như một ký hiệu lớn gồm “cái được biểu đạt toàn cầu”“cái biểu đạt toàn cầu” [7]. Mỗi một ngày trôi qua, đời sống hiện sinh của mỗi người vẫn luôn được triển khai bởi muôn vàn ký hiệu, cũng như tất cả mọi ngành khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật đều phải đụng chạm đến vấn đề biểu tượng trên bước đường phát triển của mình. Có những ký hiệu giản đơn như một cái vẫy tay, một nụ cười, một bó hoa diễn tả thịnh tình của chúng ta với một người khác; có những ký hiệu phổ quát thường ngày như logo, tín hiệu giao thông, ký kiệu khoa học; lại cũng có những ký hiệu phức tạp, cao cấp hơn ẩn dấu đằng sau những câu chuyện cổ tích hay huyền thoại của một dân tộc.

    Chính vì vậy mà việc nhìn nhận tác phẩm nghệ thuật – là sản phẩm của thời đại dưới góc nhìn của ký hiệu học hiển nhiên là điều có nghĩa. Những quan niệm về nghệ thuật từ góc nhìn Ký hiệu học như: - Tác phẩm nghệ thuật là văn bản bao gồm hệ thống những ký hiệu; - Quá trình sáng tạo là quá trình sử dụng – sản sinh ra những ký hiệu nghệ thuật;- Quá trình tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật là quá trình giao tiếp – giải mã văn bản có ý nghĩa quan trọng với cả bộ ba: người sáng tác – công chúng – giới phê bình. Với người nghệ sĩ, nó cho thấy được sự cần thiết có ý thức trong mọi ký hiệu mà bản thân họ đưa ra. (Ngay cả khi sáng tác với quan điểm đề cao tính vô thức như Jackson Pollock thì bản thân tính vô thức cùng kiểu hội họa hành động này cũng đã có thể cho thấy quan điểm của tác giả về hiện thực - ảo ảnh, về đời sống hiện sinh, về vô thức – ý thức…). Với công chúng hay giới phê bình nghệ thuật, ký hiệu là công cụ hỗ trợ phần nào cho quá trình phân tích, diễn giải hay cảm nhận tác phẩm. Việc có được những kiến thức sâu rộng về thế giới của những ký hiệu, biểu tượng có thể giúp cho con người có thể tiếp cận một cách nhạy bén hơn trước thông điệp của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý: những ký hiệu nghệ thuật hoàn toàn không phải là những phương trình toán học, những bản văn “định thức” máy móc sẵn có, thay vào đó việc định dạng và nhận thức chúng còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố được gọi là “trường văn hóa” bao quanh tác phẩm và đối tượng tiếp nhận. Điều này xem xét ở khía cạnh nào đấy, chính là góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt cho tác phẩm nghệ thuật để chúng có thể tồn tại vượt qua giới hạn không gian và thời gian.


      My Hà


                                                                                                                                                                                                                                                                                    

    Tài liệu tham khảo:

    1. Erika Ficher- Lichte, PTS. Bùi Khởi Giang dịch (1997), Ký hiệu học Sân khấu, Viện Nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam, Hà Nội.

    2. I.M. Lotman, Lã Nguyên dịch (1/2011), “Ký hiệu học văn hóa và khái niệm văn bản”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (số 319), tr.52-60.

    3. Jean Chevalier – Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới: Huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số, Nxb Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du, Đà Nẵng.

    4. J.E. Cirlot, Jack Sage dịch từ tiếng Tây ban nha sang tiếng Anh, Duy Đoàn dịch (2010), A dictionary of Symbols, Nxb Routledge (1971)- 2nd), ebook - link download:http://ebookee.org/A-Dictionary-of-Symbols-J-E-Cirlot_578356.html

    5. Hoàng Trinh (1997), Từ Ký hiệu học đến thi pháp học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

    6. Đinh Hồng Hải (2013), Tính biểu tượng trong nghệ thuật: Một vài cảm nhận về những sáng tác mới của các họa sĩ trẻ Việt nam đương đại, Link:http://www.academia.edu/2347972/Tinh_bi_u_t_ng_trong_van_h_c_and_ngh_thu_t_Symbolism_in_Literature_and_Arts_ (truy cập lúc 18:00 ngày 15/3/2017)

    7. Olga Balla, Ngân Xuyên dịch (2012) theo nguyên bản tiếng Nga tạp chí Znanie – Sila (11-12/1998), “Quyền lực của ngôn từ và quyền lực của biểu tượng”, Tạp chí Sông Hương Online,

    Link: http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p7/c98/n9935/QUYEN-LUC-CUA-NGON-TU-VA-QUYEN-LUC-CUA-BIE-U-TUO-NG.html (truy cập lúc 10:00 ngày 15/4/2017)

Share:         LinkHay.com

Các tin đã đưa