E-mail        Print        Font-size  
  • HENRI MATISSE CUỘC PHỎNG VẤN BỊ THẤT LẠC

    Henri Matisse và Jerome Seckler, Paris, tháng 8/1946







    Tại Bảo tàng Tate Modern, London (2014) và Bảo tàng MoMA, New York (2015) đã có triển lãm quy mô được xếp vào hàng kinh điển, Matisse: The Cut-Outs/Matisse: Trổ thủng, không chỉ có sức thu hút đáng kinh ngạc đối với công chúng, mà còn làm người xem thay đổi cách nhìn nhận về nhà đại danh họa. Đây thực sự là một món quà, một liều thuốc điều trị, một niềm hứng khởi lớn cho thế giới nghệ thuật và cả những người yêu nghệ thuật nhân văn và thuần khiết. Tinh thần phóng khoáng, giàu lòng vị tha trong các tác phẩm của Matisse không hề thua kém nghệ thuật bích họa thời Phục Hưng với những khao khát cứu rỗi thế giới bằng cái đẹp. Chúng gây ấn tượng mạnh mẽ bởi hình sắc hoang sơ, táo bạo vươn tới tự do.

    Nhân dịp này, tờ Design Observer cho công bố nội dung một cuộc phỏng vấn Matisse từ năm 1946 tưởng chừng đã rơi vào quên lãng, làm hé lộ những suy tư của Matisse trong những ngày ông lâm trọng bệnh song vẫn say mê làm nghệ thuật với một nghị lực và sức sáng tạo phi thường. Ở đây, những tư tưởng của Matisse thực sự mang tính nền tảng, gắn bó sâu sắc với bản chất thực của người nghệ sĩ, của nghệ thuật và của hội họa.

    Ngày 5 tháng 8 năm 1946, hai năm sau khi Paris được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Đức, một người lính Mỹ trẻ tuổi tên là Jerome Seckler đã tới thăm Henri Matisse. Seckler rất yêu thích nghệ thuật hiện đại. Để thỏa niềm đam mêm này, anh lính đã tìm gặp và phỏng vấn một số nghệ sĩ hàng đầu của nước Pháp thời kỳ đó; Matisse cũng là người nằm trong danh sách thăm hỏi đó.

    Cuộc phỏng vấn gồm ba phần, TCMT trích đăng hai phần đầu.

    Phần I

    Jerome Seckler (JS): Tầm quan trọng của đối tượng trong tranh là gì thưa ông?

    Henri Matisse (HM): Anh đặt một câu hỏi mà phải cần cả pho sách dày mới trả lời được đấy. Một câu hỏi phức tạp, rất phức tạp. Ngày nay, một số người cho rằng đối tượng là không cần thiết. Bản thân tôi, tôi luôn có đối tượng. Đối tượng là bản thân tôi và cái gì tôi thấy. Nếu không có đối tượng, tại sao ta phải làm việc - dù chỉ để phủ màu lên nền vẽ?

    JS: Tôi đã nói chuyện với nhiều họa sĩ rất giỏi của Pháp, và nhiều người trong số họ khẳng định rằng đối tượng không quan trọng.

    HM: Bắt đầu từ một đối tượng luôn luôn cần thiết, dù cho nó sẽ rời đi sau đó. Những người phụ nữ xinh đẹp này, những người ta yêu mến này, những khung cảnh có một hình thức đặc biệt nào đó hợp với cảm xúc của ta này. Tôi đã luôn luôn làm việc với một đối tượng, nó luôn luôn là một đối tượng khiến tôi phát sinh tâm trạng. Tôi không thể nói về những gì người khác nói. Điều quan trọng là làm việc trên một chủ đề gợi cảm hứng cho mình.

    JS: Sự lựa chọn riêng của ông về đối tượng, hoặc điểm khởi đầu của ông có vẻ như chỉ xoay quanh hoa và đàn bà, như kiểu có một chủ đề với các biến thái.

    HM: Trước khi làm việc, tôi thường đi dạo trong vườn nhà tôi. Trước khi làm việc tại xưởng vẽ của mình, tôi ngắm những bông hoa, một cái cây, một dáng cành cây. Tôi bị mê hoặc bởi hoa, bởi sự kết hợp của các đường nét. Khi tôi trở về, cảm xúc của tôi vẫn tràn đầy, và tôi làm cái gì đó, một cái gì đó hoàn toàn khác. Người ta chê tôi [chỉ] làm việc ở xưởng, điều đó đâu có gì quan trọng. Quan trọng là kết quả đạt được. Khi tôi bị một họa sĩ chỉ trích thậm tệ, tôi sẽ nói với ông ta, "hãy đặt tác phẩm của ông bên cạnh tác phẩm của tôi, và chúng ta sẽ thấy." Cézanne là người đã có những lời chỉ trích kiểu đó chống lại tôi.

    JS: Tôi có đọc được một câu trích dẫn trong đó ông nói rằng ông vẽ tranh chỉ khi ngồi trên một chiếc ghế tựa.

    HM: Tôi nói như vậy cách đây đã bốn mươi năm, vào năm 1906. [Rồi, ông bảo thư ký tìm một cuốn sách trong một chiếc tủ sách nhỏ ngay sát giường của ông]. Vâng, đã bốn mươi năm, và tôi thấy mình gắn liền với câu nói đó trong toàn bộ cuộc sống của tôi. Mọi người đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần, thế là nó thành một biểu ngữ. Tôi nghĩ nghệ thuật không nhất thiết phải là một điều khó chịu. Đã quá đủ bất hạnh trong cuộc đời rồi, phải biết hướng đến niềm vui chứ. Con người ta sao cứ giữ cái khó chịu, sự khổ đau cho mình nhỉ. Mọi người luôn luôn có thể tìm thấy niềm vui. Nỗi buồn không còn nữa. Đó là trải nghiệm. Đâu cần mang đến cho người khác những phiền toái của mình. Mọi người nên thanh thản. Mọi người nên làm thứ nghệ thuật khích lệ, để dìu tâm hồn người xem về miền thanh thản, nơi họa sĩ không phải nhét cái phiền toái của mình vào đó.

    JS: Nhưng những người như Goya và Daumier chẳng hạn, chưa bao giờ trốn tránh thực tế khắc nghiệt của cuộc sống. Và hôm nay, chúng ta có một Guernica. Hoặc nhìn vào văn học, Shakespeare, Milton, Balzac rất vĩ đại chính vì họ đã có thể hiển thị tất cả mọi khía cạnh của cuộc đời.

    HM: Nghệ thuật tạo hình có lợi thế hơn văn học ở chỗ nó quảng đại hơn. Văn học là một thứ chính xác. Cảm giác tạo hình là một thứ cao xa hơn và mênh mông hơn. Với một người giản dị, với người lao động, cần có trong tranh thứ gì đó làm anh ta vui, và chỉ với sự nhạy cảm của mình anh ta mới có thể đánh giá được nó. Một người có tiền sẽ đánh giá bức tranh bằng giá cả, nhưng người dân bình thường sẽ thích bức tranh chỉ bởi vì cảm thấy nó hay, ngay cả khi anh ta không biết vì sao. Chủ nhà băng khi nhắc tới bức tranh sẽ bảo "nó chả thua kém những bức tranh khác vì giá cũng ngang ngửa, cũng 200.000 franc."

    JS: Người ta nói rất nhiều, đặc biệt là các phê bình gia nghệ thuật không thân thiện, rằng nghệ thuật hiện đại có vẻ như một trò gian lận, rằng các nghệ sĩ đang cố đưa ra cho công chúng 'xơi' những món 'quá tải'. Mà cho dù công chúng có chấp thuật 'món' nghệ thuật hiện đại được têm tẩm vào kiến trúc, quảng cáo, áp phích, và thậm chí cả đồ gia dụng, thì họ vẫn không 'tiêu hóa' được hội họa hiện đại. Ông nghĩ có thể làm gì để lấp bớt hố ngăn này?

    HM: Ai bị câu hỏi đó ám ảnh? Đấy là những họa sĩ và các nhà phê bình. Nghệ thuật hiện đại bắt đầu như thế đó, bị tất cả mọi người chỉ trích, nhưng bản thân tôi thì không bận tâm về điều đó. Tôi tự nói với chính mình, "khi những thứ mình vẽ được thể hiện rõ ràng, tất cả mọi người sẽ hiểu." Tôi đã theo tôn chỉ đó, và tôi đã được công nhận.

    Một là không bao giờ được mọi người hiểu, một là được công nhận. Các họa sĩ chỉ cần làm việc chân thành, phản ánh thiên nhiên hay không thì cũng chẳng quan trọng, nếu họ có cái đầu đủ thông minh thì rồi công chúng sẽ đến với họ. Một đầu bếp không phải lúc nào cũng cần được duyệt và yêu cầu [người khác] nếm thử các món ông ấy chuẩn bị. Nếu bản thân anh gặp rắc rối với công chúng, với hội họa, với nghệ thuật với những gì người ta phải nói, những gì người ta không thể đạt tới, thì thật là quá phức tạp.

    Có nghệ thuật, có dự án làm tranh và cái bạn cảm thấy. Làm điều đó với ngôn ngữ trong sáng là việc cần thiết. Một ngày nào đó, bức tranh này sẽ được thừa nhận, nhưng anh có thể làm gì không để thúc đẩy điều đó. Mọi người chưa bao giờ nói nhiều về hội họa như bây giờ. Tôi hy vọng rằng họa sĩ hiện nay giỏi, mà tôi cũng không chắc. Mỗi thời chỉ có một số các họa sĩ đáng kể. Cần gì phải có cả một trung đoàn họa sĩ. Chỉ có một số họa sĩ trong mỗi thời kỳ. Các họa sĩ tin rằng họ tồn tại vì mọi người nhắc tới họ. Tồn tại thì đơn giản hơn nhiều, mà cũng khó đấy chứ. Chỉ có một vài họa sĩ giỏi trong mỗi thời, mà so với số các họa sĩ tồi số đó lại càng vô cùng ít.



    Triển lãm Henri Matisse: The Cut-Outs tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York, 2015



    Phần II

    Jerome Seckler (JS): Nếu các họa sĩ đóng một vai trò quan trọng trong xã hội, ông có nghĩ rằng chính phủ nên chu cấp cho họ như kiểu trả lương cho bất kỳ nhân viên chính quyền nào khác không? Anh ta không còn phải lo lắng chuyện cơm áo gạo tiền. Anh ta có thể sống một cuộc sống như mọi gia đình bình thường [không phải vào trại tế bần]. Anh không phải sống nhờ vào lòng thương hại của các đại lý. Anh thực sự được vẽ thoải mái.

    Henri Matisse (HM): Tôi chẳng màng mấy thứ đó. Nếu người ta cứ trông chờ và khoản trợ cấp của chính phủ dành cho hội họa, dành cho bất kỳ người nào muốn vẽ, thì tất cả các họa sĩ nghiệp dư cũng sẽ tận dụng những cơ hội như thế. Đó là chuyện phi lý. Điều cần thiết là phải cố gắng. Khi cung cấp phương tiện cho những người muốn vẽ, điều quan trọng là phải lập được những rào cản vững chắc ngăn chặn mọi cuộc tấn công của các họa sĩ tồi. Mỗi khi có một học trò định hiến dâng đời mình cho hội họa xuất hiện ở trường lần đầu tiên, rất nên phủ đầu anh ta, để hắn phải chuồn về nhà, và hãy chờ xem hắn có muốn quay lại trường không. Nếu có thể tiến hành những phép thử như thế, sẽ có rất nhiều người không bao giờ quay lại trường.

    Khó nhọc cuộc đời nhào nặn tính cách con người, cần lắm chứ. Thế mới cứng gân cốt. Nghệ thuật là một ngoại lệ. Ngày nay, rất nhiều người nghĩ rằng họ là nghệ sĩ bởi vì họ có khả năng thấy được vẻ đẹp của hoa hay khung cảnh hoàng hôn. Ngày nay, với trình độ văn minh phát triển, tất cả mọi người đều nhạy cảm với nghệ thuật, nhưng như thế không có nghĩa là tất cả đều có thể làm nghệ thuật. Tất cả đều vẽ cả thì lấy ai làm những việc khác. Tôi nói với anh chân thành đấy. Tôi cũng muốn có một ủy ban gồm các nghệ sĩ uy tín chọn ra được những người trẻ tuổi có năng khiếu hội họa để Nhà nước tài trợ. Nhưng thế thì tác phẩm của các họa sĩ hưởng lộc đó sẽ thuộc về Nhà nước, và chúng sẽ được cất trong các bảo tàng, như thế thì người ta phải đến nước Pháp để xem tranh của họa sĩ Pháp, đến Mỹ để xem tranh của họa sĩ Mỹ, vân vân và vân vân. Đấy là điều sẽ xảy ra. Các họa sĩ giỏi nhất có thể không rơi vào những trường hợp được ủy ban đó ghi nhận. Họ là những người sẽ thành công chỉ nhờ tự lực. Anh được ủy ban nghệ sĩ ghi nhận. Lập tức, anh đã được ngồi vào chiếc chiếu đặc biệt, và thế là tự nhủ "Ta là họa sĩ, ta đã được công nhận." Điều đó khiến anh tự hào, tự phụ. Người ta phải giữ chỗ cho mình vì muốn có việc. Người ta sẽ giữ kín, rất kín, nếu cần, nhưng nhất định phải giữ bằng được. Con người ta phải bị giày vò, bị đau khổ với những gì mình yêu. Đó là sự thật đối với tôi, nhưng với anh có lẽ không đúng.

    Tôi nói để anh hiểu những gì tôi nghĩ. Những người trẻ tuổi đó, những người sẽ được công nhận là họa sĩ đó, họ không phải là những người sẽ trở thành giỏi nhất. Những người giỏi nhất là những người sẽ bị quên lãng, vì họ đã không trở thành những kẻ mà người khác muốn. Đó là những người làm việc bằng tâm hồn mình và mong được thể hiện bản thân, đấy mới là những người sẽ trở thành các họa sĩ cừ khôi nhất.

    JS: Theo tôi, có lẽ càng có nhiều họa sĩ càng tốt. Thứ nhất, như thế sẽ làm ra được nhiều kiến thức nghệ thuật hơn cho nhân dân. Như thế sẽ đáp ứng được mục đích giáo dục bằng nghệ thuật. Thứ hai, càng nhiều họa sĩ thì càng có khả năng sẽ có nhiều họa sĩ giỏi. Chắc chắn sẽ thu hoạch được nhiều trái táo ngon hơn từ một vườn táo, thay vì chỉ có một cây táo. Nếu chúng ta có mười họa sĩ giỏi trong số mười ngàn họa sĩ thì vẫn tốt hơn là chỉ có một hoạ sĩ giỏi trong số một ngàn người. Ở Mỹ, trong cuộc [Đại] suy thoái, chính phủ đã có hẳn một chương trình nghệ thuật liên bang tạo công ăn việc làm cho rất nhiều nghệ sĩ, và bên cạnh đó, đã có rất nhiều trường nghệ thuật được thành lập dành cho những người mới bắt đầu. Điều đó tạo ra động lực to lớn thúc đẩy nền hội họa Hoa Kỳ. Nhiều họa sĩ giỏi của chúng tôi hiện nay đã bước những bước đi ban đầu từ thời kỳ đó. Ví dụ như trong lĩnh vực tranh bích họa, đã có rất nhiều công sở thuê các họa sĩ làm tranh tường trang trí. Mặc dù khá nhiều tác phẩm chưa đẹp, nhưng chẳng sao, đất nước chúng tôi đã khởi đầu một truyền thống tranh bích họa. Tại sao họa sĩ lại phải đói khát? Tại sao cứ phải làm miếng giẻ rách của xã hội?

    HM: Anh không phải là một nhà điều tra thực thụ rồi. Anh định áp đặt tư tưởng của anh cho tôi đấy à. Tất cả các họa sĩ khởi nghiệp từ trong đói khát và giá buốt mới là những người vẽ được các tác phẩm tốt. Tất cả mọi người, Picasso, Magritte, Rouault, và bản thân tôi, tất cả đều đã bắt đầu như thế. Cái gì cũng có giá của nó. Một nghệ sĩ thực thụ làm việc để nhận rõ bản thân, để hiểu chính mình. Người ta không thể hiểu được một bức tranh mà lại không hiểu bản thân. Những vấn đề anh đặt ra với tôi không quá phức tạp. Chúng rất đơn giản và rõ ràng. Rõ ràng là để có được các họa sĩ cừ thì điều cần thiết là họ không được ăn quá no.

    JS: Nhưng một khi ông không còn bị đói và rét thì mới có khả năng tiếp tục phát triển nghệ thuật của mình được chứ. Về đau khổ và nghệ thuật, nhiều họa sĩ đã nói với tôi rằng chiến tranh, chẳng hạn thế, không hề ảnh hưởng tới tranh của họ.

    HM: Làm sao mà một nghệ sĩ lại có thể dửng dưng trước những tác động của chiến tranh kia chứ. Chiến tranh càng khiến anh ta nắm bắt mọi thứ sâu sắc hơn. Những chủ đề anh ta vẽ chẳng lẽ lại không ảnh hưởng gì tới tác phẩm sao.

    JS: Chiến tranh dường như đã không ảnh hưởng tới nền nghệ thuật Pháp, mà thế thì thật là không thể hiểu nổi.

    HM: Điều anh nên làm là hãy đi thăm tất cả các họa sĩ. Hàng tuần, hàng tháng, nên đến thăm tất cả các xưởng vẽ, và hãy phá hết những bức tranh vẽ chai vẽ lọ đi, đập hết những cái chai đi. Chai với chả lọ, thật đúng là tấm gương xấu. Với cùng một chủ đề, mọi người có thể biểu hiện khác nhau, nhưng mấy cái chai Cézanne vẽ không ổn. Những người vẽ chai là những kẻ luôn tự trấn an, "chai quá hay, vì chính Cézanne còn vẽ chúng cơ mà."

    JS: Khi họa sĩ làm việc tại xưởng vẽ của mình, anh ta không còn biết những gì đang diễn ra bên ngoài.

    HM: Một họa sĩ là bậc thầy trong xưởng vẽ của mình không có nghĩa là bậc thầy trong thiên hạ. Người họa sĩ cần thể hiện mọi điều trong khung cảnh tương xứng với cảm xúc của mình. Những đám mây, những con ngựa, đều quan trọng như nhau. Nghệ sĩ đi ra ngoài. Anh ta nhìn thấy một thứ gì đó làm giàu thêm kiến thức của mình. Anh ta lại về nhà cùng các đối tượng và sự hiểu biết về các ích lợi của đối tượng mà anh ta đã bắt gặp. Tôi đã vẽ một bức tranh, một cô gái trẻ ngồi bên cửa sổ. Tôi để nó lại nhà, đi đến các đảo Thái Bình Dương, đi tàu thủy, đến New York, một thành phố tráng lệ, các tòa nhà cao tới mức khiến bầu trời thăm thẳm hơn. Tôi sang Mỹ. Tôi đã ở Chicago, Los Angeles. Tôi không muốn tới thăm thác Niagara vì tôi đã nhìn thấy quá nhiều ảnh chụp nó. Tôi đã đến San Francisco. Tôi đi cả Tahiti. Tôi đã chứng kiến một thảm thực vật hoàn toàn khác, muôn hồng ngàn tía, vô cùng xinh đẹp và gợi trí tò mò. Tôi đã ở trong các quần đảo san hô; không khí cực kỳ trong lành và không hề có tí bụi bặm nào. Các loài cá màu sắc thật sặc sỡ. Tôi quay về, qua kênh đào Panama, dừng lại ở Martinique và Guadalupe, rồi trở về Marseille. Tôi lại vào xưởng vẽ của mình, ngắm lại bức tranh của mình, rồi hoàn thành nó. Sau đó, thỉnh thoảng tôi vẽ trang trí cho [các công trình của] ngài Barnes. Ở đó, tôi đã thể hiện lại những điều mình cảm nhận được trong chuyến du hành của mình; tôi vẽ vì thấy mình mắc nợ chuyến đi này. Đối tượng nhiều vô kể, không đếm xuể.

    Đối tượng luôn thôi thúc ta lên đường, không toan tính.


    Phạm Long

Share:         LinkHay.com