E-mail        Print        Font-size  
  • CẦN LÀM RÕ ẢNH “THÀNH NAM - TRƯỜNG THI CUỐI CÙNG THỜI CẬN ĐẠI” VÀ TRANH “BÌNH VĂN” Ở BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM

    Bức ảnh “Thành Nam-Trường thi cuối cùng thời cận đại (1895-1896) của Armand Rousseau (Pháp)






    Triển lãm “Ảnh Việt Nam xưa” (1895-1896) của Armand ROUSSEAU tại Thư Viện Quốc gia - HN (từ 20 đến 23/5-2014) do Thư viện QGHN và Tạp chí “Xưa và nay” tổ chức. Triển lãm đem đến cho người xem nhiều hình ảnh quý báu và ý nghĩa về Việt Nam những năm cuối cùng của thế kỷ 19. Trong đó, bức ảnh: Thành Nam – trường thi cuối cùng thời cận đại được nhiều bạn xem liên tưởng ngay đến bức tranh Bình văn bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (BTMTVN), bởi giống nhau ở toàn bộ hình tượng và vị trí bố cục. Nhiều bạn hỏi tôi, dưới góc độ nghiên cứu Lịch sử Mỹ thuật: “Lâu nay bức tranh Bình văn bày tại (BTMTVN), nay xem ảnh Thành Nam – trường thi cuối cùng thời cận đại thì hóa ra đã được ai đó ? "vẽ - chép" theo bức ảnh này”. “Ai là người vẽ/chép? Có phải là Lê Văn Miến đã “Đạo ảnh”? có vi phạm bản quyền? Sao BTMTVN lại có tranh này? Lại coi “tranh đó” như cái mốc quan trọng cho MTVN thời cận hiện đại? Vấn đề này nên hiểu thế nào?...”

    1. Vì sao bức tranh Bình văn có trong sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam:

    Tranh Bình văn được sưu tập vào BTMTVN từ năm 1972, đến nay đã 42 năm. Trước “Triển lãm ảnh Việt Nam xưa” có lẽ chưa ai thấy bức ảnh "Thành Nam – trường thi cuối cùng thời cận đại", nên chưa có ý kiến gì về Bình văn là tranh vẽ/chép ảnh (Đạo ảnh)?

    Với tranh Bình văn có được chỗ đứng ở BTMTVN, là do nhà nghiên cứu Thái Bá Vân (TBV) đã tự hào rằng: mình có công phát hiện bức tranh này (từ gia đình ông Nguyễn Đình Chữ ở ngõ Thổ Quan, phố Khâm Thiên – HN) năm 1971, là của Lê Văn Miến. TBV viết: “Tôi không bao giờ có ý định từ chối cái may mắn và vinh dự nghề nghiệp là chính tôi đã phát hiện ra nó, và phát biểu nó là của ông” (*).

    Mặc dầu “Tranh đó không ký tên người vẽ, không đề năm vẽ , và không có tên tranh” nhưng Thái Bá Vân vẫn cho là của Lê Văn Miến. TBV viết: “Cái tên tranh bây giờ "Bình văn", tên tác giả Lê Huy Miến và năm vẽ là: 1896 là của BTMT điền vào những chỗ trống”. Riêng Thái Bá Vân thì cho rằng: “Quan điểm của mình về bức tranh không có tên: Tác giả nên đề là Lê Văn Miến, năm vẽ nên chữa lại là khoảng 1904-1905. Còn tên tranh "Bình văn" để vậy cũng tốt”. “Sau này tôi khớp nhiều sự kiện khác vào và xác minh được rằng họa sĩ Lê Huy Miến (như BT gọi) đã vẽ bức tranh này khi ông từ Huế bị đổi ra Vinh dạy học, và lập Hoan Học Hội, một chi nhánh của trường Đông Kinh Nghĩa Thục vào khoảng 1904-1906. Môn học Bình văn là môn mà cả hai trường đều rất chú trọng để giác ngộ tinh thần yêu nước cho học sinh”. Dưới góc độ thẩm mỹ của TBV đánh giá Bình văn là: “Đã giật mình khi nhìn phải nó. Cách dựng hình cổ điển vững vàng, bố cục Kim Tự Tháp, màu sắc sáng tối,vừa tế nhị vừa khoa học, làm tôi bất giác nhớ lại những ấn tượng trân trọng khi đứng giữa các bảo tàng châu Âu thủa còn học sinh”. “Bình văn” là một bức tranh rất đẹp, vào loại quý lắm của nước ta”; “phải là của một tác giả Việt Nam kỳ cựu”; “phải học nghề ở một trường Mỹ thuật Cổ Điển bên châu Âu” (*).

    Sự cố gắng giới thiệu của TBV về “bức tranh không có tên tác giả, không đề năm vẽ và không tên gọi đó, tự nhận là mình phát hiện và chứng minh” (*) đến nỗi viện trưởng Nguyễn Đỗ Cung đương nhiệm (mà TBV cho là “nổi tiếng khắt khe nghề nghiệp”) đến xem, lắng nghe và thuận cho cán bộ mua tranh này vào sưu tập của BTMTVN (1972). Người cầm tiền (600 đồng) đến lấy tranh về là Nguyễn Hải Yến. TBV viết: “Đối với BTMTVN Họa sĩ Lê Văn Miến với bức tranh “Bình văn” là một cái mốc mà lịch sử Mỹ thuật nước nhà chỉ có thể coi là thuận lợi và đẹp đẽ. Nó làm cho hội họa hiện đại Việt Nam có thêm một phần tư thế kỷ tuổi đời và thêm một học vấn vững chãi không lặp lại một lần thứ hai nào nữa”. Với TBV:“Bình văn” đã khuyến khích (TBV) tìm hiểu tác giả của nó kỹ càng hơn”;” người họa sĩ tài hoa, từ khi tốt nghiệp xuất sắc trường Mỹ thuật Paris với tư cách là người Việt đầu tiên, vào năm 1895 về nước đã hầu như bỏ bút.”(*) Đó là đánh giá của Thái Bá Vân.

    Xung quanh giữa ảnh “Thành Nam…” và tranh Bình văn các ý kiến người xem triển lãm về “Bình văn” rằng: “Ai đó cứ ca ngợi mãi cái bố cục của tranh ? Thật ra, cũng chỉ là ca ngợi cái bố cục của bức ảnh thôi!”; “Không có sáng tạo gì của người vẽ/chép cả! Tranh này bắt chước, chép hoàn toàn, sao lại mua bày ở BTMTVN? thiếu gì các tranh đẹp hơn ?” Hoặc “Trước kia không biết ảnh của Armand ROUSSEAU, thì thấy tranh "Bình Văn" với lối mới, vẽ sáng tối theo Âu Tây, khác với tranh cổ truyền thống, nhưng không đến mức quá đề cao như TBV”. Hay: “Việc Lê Văn Miến học Mỹ thuật chỉ là học thêm trong thời gian ở Paris, bởi ông không được cử đi học Mỹ thuật. Trường ông Miến phải thụ giáo là Trường Thuộc Địa. Lê Văn Miến không thể học một lúc hai trường theo hệ chính quy”? “Hoặc bảo sau khi học xong Trường Thuộc địa, ở lại theo học trường Mỹ thuật Paris, thì lấy tiền đâu ra ăn học? Rất tốn kém! ai tài trợ ?; Triều đình Huế có chấp nhận không? “Vậy dựa vào đâu mà Thái Bá Vân viết: Lê Văn Miến tốt nghiệp xuất sắc trường Mỹ thuật Paris”. “Ở Pháp tư liệu rất chặt chẽ: Tốt nghiệp, hay giải thưởng Mỹ thuật dù loại nào đều có bằng, và lưu hồ sơ. Viết lịch sử mỹ thuật mà luộm thuộm quá!”



    Bức tranh “Bình văn” (bày tại BTMTVN)


    2. Tranh vẽ /chép ảnh “không ký, không tên, không năm vẽ”, được đặt “tên gọi, tên tác giả, niên đại” và “đề cao”. Vậy có liên quan đến Bản quyền?.

    Trong nghiên cứu, niên đại là cơ sở xác định LSMT. Ở đây có 3 niên đại quan trọng liên quan đến vấn đề cần giải quyết. Một là: Niên đại (1895-1896) ảnh chụp mà Armand ROUSSEAU thực hiện trong thời gian ở Đông Dương. Và có hai niên đại liên quan mật thiết đến mỹ thuật của Lê Văn Miến: 1. Vào thời vua Thành Thái, có ba người là: Lê Văn Miến, Hoàng Trọng Phu và Thân Trọng Huề được triều dình Huế cử đi học Trường Thuộc địa ở Pháp (1892-1898). 2. Bút tích của Lê Văn Miến về niên đại (1898) trên tranh "Cụ Tú Men". Đã cho những xác định khác với TBV và BTMTVN về Bình văn và Lê Văn Miến khi tranh nhập vào Bảo tàng.

    Trước khi đi học Trường Thuộc địa Pháp, Lê Văn Miến chưa vẽ tranh sơn dầu. Những nghiên cứu sưu tầm, hay gia đình họa sĩ cho biết, thì những tranh sơn dầu của Lê Văn Miến chỉ có khi từ Pháp về nước (1898).

    Vấn đề giữa ảnh và tranh, cái nào có trước? Muốn xác định phải lấy mấu chốt là niên đại. Nếu coi tranh “Bình văn” là của Lê Văn Miến hay của ai đó thì ảnh của Armand ROUSSEAU có trước. Bởi nếu “người vẽ” và “người chụp ảnh” cùng trước một khung cảnh có “Thày dạy và Trò học”, thì giữa tranh và ảnh “không thể giống y như nhau về hình tượng, vị trí nhân vật và bố cục”. Còn Armand ROUSSEAU đương là Toàn quyền Đông Dương cũng không bỏ phí công sức đi dựng bức ảnh “giống theo cái tranh”. Để phải tìm chọn lại đúng ngần ấy người, đúng y thày và trò, lại xếp bố cục, ánh sáng và bóng tối như trong tranh để chụp?.

    Vậy người vẽ/chép ảnh "Thành Nam …" thành Bình văn là ai? Lê Văn Miến hay của một họa sĩ nào đó (người Pháp)? Niên đại bức ảnh trong thời gian (1895-1896) và hiện thân nội dung hình tượng “Thày dạy trò học” là ảnh của Armand ROUSSEAU. Vậy Sao nội dung hình tượng ấy lại “y như” ở tranh vẽ/chép ảnh ở BTMTVN gọi là Bình văn, và đặt niên đại 1896? Sự trùng niên đại này phải xét lại? Nếu coi Ảnh và Tranh là của hai tác giả, thì không thể trùng khớp “nội dung hình tượng, vị trí và bố cục”? như vậy BTMTVN đặt “niên đại 1896” của Bình văn là không đúng. Hình tượng “Thày dạy trò học” (trên ảnh và tranh) lại được TBV cho ra là: “môn Bình văn - đều rất được chú trọng, để giác ngộ tinh thần yêu nước cho học sinh” vào (1904-1906) - có Hoan Học Hội. Cũng như “niên đại ước chừng”có tranh Bình văn mà ông Nguyễn Đình Chữ (71 tuổi) kể: “từ ông cụ tôi, cụ Hội cầm từ Kim Liên về”; trừ đi khoảng 5 tuổi để ông Chữ có thể nhớ, thì TBV cho tranh có khoảng năm 1905 và liên tưởng áp đặt vào Lê Văn Miến “Vẽ nên chữa lại là khoảng 1904-1905“. Dù suy diễn nội dung, thì niên đại tranh “Bình văn” vẫn đi sau. Còn niên đại ảnh "Thành Nam…" (1895- 1896) vẫn có trước.

    Lại xét thời điểm (1985-1896) Armand ROUSSEAU ở Đông Dương, thì Lê Văn Miến lúc này đang học ở Pháp? Vậy nếu cho là Lê Văn Miến (hay ai đó) “vẽ/ chép ảnh”? còn phụ thuộc Armand ROUSSEAU có bày “ảnh này” ở Pháp, hay ở Đông Dương hay không?, để ai đó có tư liệu vẽ/chép? Hoặc có cuộc gặp gỡ nào của hai người? Chắc là không, bởi Armand ROUSSEAU lúc đó là Toàn quyền Đông Dương, còn Lê Văn Miến chỉ là con của một quan Án sát ở Huế… thì khó có ảnh mà chép? Armand ROUSSEAU ở Đông Dương ngắn ngủi, lại mất đột ngột, gia đình sang đưa di hài về quê (ở Pháp), và giữ các bộ kính ảnh của ông. Một nghi vấn khác: Vậy trong các năm học tại Trường Thuộc Địa ở Paris, liệu Lê văn Miến có cuộc tiếp xúc nào với ảnh này của Armand ROUSSEAU mà gia đình đang giữ? Hoặc giả: tranh đó có in vào Sách/ Báo/Tạp chí nào không? để “ai đó” có được ảnh mà vẽ/chép… đều không thấy bằng cứ.

    Người vẽ/chép ảnh thành tranh Bình văn không ký tên vẫn là bí ẩn? Song một điều lưu ý rằng: Hiện thân của tranh Bình văn trước khi vào BTMTVN là “Khuyết danh”. Vấn đề “Khuyết danh” với một người vẽ có trình độ hội họa, là có chủ ý, liên quan đến “Tư chất người cầm bút”. Đặc thù của “sao chép tranh” không dễ như chép một bài Văn, bài Thơ. Từ ảnh “Thành Nam…” sang tranh Bình văn, người “vẽ/chép ảnh” phải có khả năng hội họa, mới sử dụng được chất liệu, để từ ảnh vẽ sang mặt vải bằng sơn dầu. Đối chiếu thấy người vẽ có chuyển đổi một chút. Đó là phần nền, không còn tấm bảng sau lưng ông đồ, mà chuyển thành khoảng không gian lẩn chìm của sáng tối, với gam màu nâu nước mận. Từ ảnh “vẽ/chép” sang tranh đã ít nhiều lồng tình cảm của người vẽ. Sự thể hiện “bằng chất liệu sơn dầu” đã tạo nên vẻ đẹp mới, khác với hiện diện nhiếp ảnh “trên giấy ảnh”. Cho dù thế, người vẽ đó vẫn tránh ký tên. Mà ký tên trên tranh tượng vốn là xưng quyền tác giả, ghi nhận giá trị sáng tạo cá nhân. Nó đã thấy từ thời Hy-La và rõ rệt từ Phục Hưng đến nay. Tên ký, năm sáng tác trên tác phẩm và gọi tên tranh tượng đã là lối mòn của người sáng tạo. Ở đây, dù người vẽ / chép đó là ai? mà để “Khuyết danh, khuyết năm, khuyết tên gọi” đó là người tự trọng. Không ký tên là “không muốn cướp sáng tạo của tác giả nhiếp ảnh”. Không ký tên để hiện diện giá trị nội dung và hình thức có sẵn của bức ảnh với hình thể, bố cục nhân vật, sáng tối, do chính Armand ROUSSEAU (tác giả ảnh) đã làm nên. Cho đến nay hiện tượng độc nhất vẽ/chép đó vẫn chỉ thấy độc bản. Chứng tỏ (ai đó) không chép ảnh để nhân bản, để bán thu lợi. Không ký tên tức là không thể trói ai “đạo ảnh”, tức không vi phạm bản quyền. Đến đây ta thấy rõ và có thể nghĩ: Dù ai? đã vẽ/chép từ ảnh ra bức “Bình văn”, đã thấm nhuần nội dung: đề cao tri thức với “dạy và học” từ tác giả nhiếp ảnh Armand ROUSSEAU.

    Đối với tác phẩm (không có tên Tác giả / tác phẩm, không có năm vẽ) mà ở trường hợp khác (không vướng sao chép), thì nghiên cứu/sưu tập cũng nên tôn trọng: Khuyết danh. Phải được xác định thật chắc chắn mới bổ khuyết.



    LÊ VĂN MIẾN - Chân dung cụ Tú Men. 1898. Sơn dầu


    Song điều vướng ở đây với tranh Bình văn là TBV dùng nghiên cứu võ đoán, tự tôn việc mình phát hiện, đã “gán danh” Lê văn Miến, “đặt tên” và “áp đặt niên đại” vào tranh /chép từ ảnh. Còn vốn dĩ tranh “khuyết: danh, tên và niên đại”. Thì vô hình chung đã trói Lê văn Miến vào "Đạo ảnh", và báo hại BT MTVN? Mặc dầu lúc đó (1971-1972) TBV chưa biết đến ảnh "Thành Nam – trường thi cuối cùng thời cận đại" của Armand ROUSSEAU. Giả sử lúc đó TBV biết ảnh này, chắc cũng không vồ vập đến như vậy, và BTMTVN chưa chắc đã mua? Nay bức ảnh là (tác phẩm gốc) là vật chứng về tranh “Bình văn” vẽ / chép ảnh, BTMTVN chừa ra, không nên trưng bày. Bởi Bảo tàng là nơi vốn dĩ rất kỵ “nhái /chép/ đạo tranh/ đạo ảnh”.

    3- Nghiên cứu về Lê Văn Miến (1870-1942) xác định rõ các liên quan:

    Nghiên cứu Lịch sử Mỹ thuật, chúng tôi đã tra cứu về họa sĩ Lê Văn Miến. Vẫn biết tranh Bình văn trưng bày ở BTMTVN, biết những kiến giải của Thái Bá Vân, cùng cái khung đồng đề: “tên tranh, tên tác giả, năm vẽ,” của BTMTVN “khó lay chuyển”. Có thể là vì việc này là “của chung” và không ảnh hưởng tới ai? Song bản lĩnh nghiên cứu thì luôn cần những chính kiến của mình. Tránh lối “ăn sẵn” chưa kiểm nghiệm, dù “món” đó được đóng nhãn/mác “thương hiệu”. Chẳng hạn: Trường hợp bức sơn dầu Chân dung cụ Tú Men của Lê Văn Miến, trên tranh không ghi năm vẽ (Dương lịch), nhưng TBV vẫn viết, và BTMTVN vẫn đặt năm vẽ là: 1896?

    Nghiên cứu Mỹ Thuật, tôi (NVC) không vội cả tin “chạy theo cái làm sẵn” của TBV, cũng chưa tin cậy “niên đại 1896”- gắn trên khung tranh Chân dung cụ Tú Men của BTMTVN, khi thấy nghi vấn. Xem xét tranh Chân dung cụ Tú Men (**) sơn dầu (0,54cm X 0,63cm), thấy hai hàng chữ Nho màu đỏ, đối xứng ở hai bên hình tượng cụ Tú. Nó là câu đối phối cảnh trong tranh? hay có thông điệp gì về ngôn ngữ liên quan. Khiến tôi đọc/ dịch hai dòng chữ này, đã phát hiện ra: “lai lịch nhân vật” là thày dạy của họa sĩ Lê Văn Miến thời niên thiếu và “niên đại” tranh này. Nó còn làm điểm tin cậy để đối chứng các sự việc liên quan nghiên cứu. Cụ thể như sau:

    - Dòng bên tả cụ Tú: “Tự Đức, Đinh Mão khoa Tú tài, niên canh ất vị tam thập tam tuế” tức là (Niên hiệu Tự Đức, năm Đinh Mão, đỗ khoa Tú tài, năm cụ 33 tuổi).Niên canh Ất Vị ( còn gọi là Ất Mùi ) Vì cụ Men sinh năm Ất Mùi , đến năm Đinh Mão ( thời vua Tự Đức ) đỗ Tú Tài là 33 tuổi ! ( 33 năm).

    - Dòng bên hữu cụ Tú: "Thành Thái, Mậu Tuất niên tả chân, thị niên lục thập tứ tuế " tức là (Niên hiệu Thành Thái, năm Mậu Tuất, vẽ tả chân, năm cụ 64 tuổi).

    Ta so “Mậu Tuất niên tả chân” sang năm dương lịch thì đích thị năm 1898 vẽ chân dung (do chính tác giả đề trên tranh).

    Các nghiên cứu trước (như Thái Bá Vân) không đọc chữ Hán trên tranh, chắc tưởng là câu đối làm phối cảnh nền cho nhân vật, nên đã không giải mã được chính xác niên đại sáng tác. Bởi vậy đã võ đoán, đặt năm vẽ 1896 tranh này là không đúng. Từ cái sai về năm sáng tác, lại được BTMTVN trang trọng khắc lên biển đồng, gắn trên khung tranh. Nên đã kéo theo những người nghiên cứu tin dùng, mà tiếp truyền cái sai. Khi viết Lịch sử Mỹ Thuật Việt Nam phần Cận Hiện Đại, tôi đã viết đúng niên đại sáng tác tranh "Cụ Tú Mền" là năm 1898 (như đã tra cứu giải mã trên) nên Đặc san của Viện Mỹ Thuật) tin TBV và cái miếng đồng gắn trên khung tranh của BTMTVN, tự ý chữa lại theo năm sai là 1896... Sách in ra, đến tay bạn đọc... thật khó đính chính.

    Phát hiện niên đại từ bút tích trên tranh Chân dung cụ Tú Men của Lê Văn Miến, ta xác định tranh vẽ năm 1898. Nhờ đó biết chắc chắn đó là năm Lê Văn Miến đi học ở Pháp về nước, vẽ tranh sơn dầu đầu tiên. Bức chân dung hàm nghĩa “Tôn sư trọng đạo” trả ơn, ân nghĩa thày của Lê Văn Miến, khi thiếu niên đã học giỏi chữ Hán từ thày.

    Tiếp xúc thân nhân họa sĩ Lê Văn Miến, tôi có hỏi về bức Bình văn, thì họ đều không biết đích xác, có phải là của Lê Văn Miến hay không? sự ngờ vực dẫn đến không dám khẳng định. Nhưng tranh Chân dung cụ Tú Men thì con cháu Lê Văn Miến nhớ và kể rất tường tận: “Cụ Tú Men - thầy giáo mà cha tôi rất kính trọng. Cụ tên thật là Nguyễn Vĩnh Mận (xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn – Nghệ An) thày dạy chữ Nho cho cha tôi thủa thiếu niên. Khi về nước, cha tôi đến thăm thày, và nhận vẽ chân dung”. Và nhắc lại cả lời của cháu nội cụ Tú Men là Nguyễn Cẩm kể: “Năm ông Lê Văn Miến ở Pháp về, là năm vẽ chân dung cho cụ Tú Men. Công việc vẽ đều ở nhà, thỉnh thoảng ông Miến sang chơi ngồi nói chuyện, và ngắm nghía cụ Tú Men. Thời gian khoảng 3 tháng như vậy, thì thấy ông Miến mang tranh sang biếu. Cả gia đình ngạc nhiên vì thấy giống quá. Cụ Tú Men định đền công bằng 30 đồng bạc trắng; nhưng ông Miến không nhận, mà nói là: đền ơn thày. Bức chân dung này gia đình ông Nguyễn Cẩm dùng để thờ, nhờ vậy mà còn”. Sau này, gia đình ông Cẩm (47 Hàng Bông thợ nhuộm Hà Nội) đã hiến tặng vào BTMTVN.

    Đọc/dịch bút tích Hán tự trên tranh vẽ cụ Tú Men, đã khẳng định chắc chắn về niên đại tranh Chân dung cụ Tú Men (sơn dầu- 1898) của Lê Văn Miến, ghi nhận lối vẽ mới. Niên đại đó làm bằng cứ xác định giai đoạn MTVN cận đại, cách trước Trường Mỹ thuật Đông Dương 23 năm. Sau đó Lê Văn Miến còn vẽ một số bức chân dung, rồi bỏ vẽ, đem nhiệt huyết yêu nước sang dạy học, giáo huấn lớp trẻ. Dự định cuối đời nghỉ hưu rồi vẽ, nhưng năm 1927 ông bị lòa, rồi 1928 mù hẳn, con đường mỹ thuật của ông chấm dứt hoàn toàn. Tài năng hội họa của ông không ảnh hưởng đến một ai, trở thành một hiện tượng Mỹ thuật cá biệt. Lê Văn Miến mất năm 1942.

    Nguyễn Văn Chiến

    Chú thích: . (*) Dẫn “Kỷ niệm về bức tranh “Bình Văn” của họa sĩ Lê Huy Miến tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam” (từ trang 347 - 351) in trong sách: Thái Bá vân“ Tiếp xúc với nghệ thuật” Viện Mỹ Thuật- ấn hành 4-1998.

    (**) Xem: “Niên đại bức tranh cụ Tú Mền” Nguyễn Văn Chiến (từ trang 638- 640), in trong sách: “Những phát hiện mới về Khảo Cổ Học năm 2009” - Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội 2009.

    Tham khảo:.1. Armand ROUSSEAU sinh 24-8-1835 Trètlez, Finistère, Pháp. Tốt nghiệp trường Bách khoa, kỹ sư tham gia xây dựng cây cầu nổi tiếng tại thành phố Brest. Tháng 2-1985 Armand ROUSSEAU được chính phủ Pháp cử sang làm toàn Quyền Đông Dương. Công việc của ông bận rộn, nhưng ông vẫn chụp được rất nhiều ảnh. Thời gian ở Đông Dương ngót 2 năm, thì ngày 10 tháng 12-1896 ông đột ngột qua đời, được đưa về chôn cất tại quê nhà. Gia đình lưu giữ được các tập an-bum của ông thực hiện trong thời gian ở Đông Dương và Việt Nam. Triển lãm ra mắt một phần trong bộ an-bum này.

    2. Theo phả hệ gia đình họ Lê làng Kim Khê: Cụ Lê Năng Nghiệm sinh 11 con (6 trai, 5 gái). Lê Huy Sáng (anh cả), Lê Huy Thản (em trai thứ 2) Lê Huy Miến là (em trai thứ 3)... Trong các con trai (thuộc đời 2) tên đệm đều là (Huy). Nhưng với ông Miến, có chỗ ghi là Lê Văn Miến. (Con trai ông Miến là Lê Văn Chương cũng cho biết là: Lê Huy Miến). Đến đời thứ (3 và 4) hàng cháu, chắt vẫn duy trì tên đệm là (Huy), như: họa sĩ Lê Huy Trấp cháu đích tôn của Lê Huy Thản (gọi họa sĩ Lê Văn Miến bằng ông chú/ ruột). Họa sĩ Lê Văn Miến (trai thứ) sinh các con đều lấy tên đệm là (văn) như: Lê Văn Chương, Lê Văn Điệp, Lê Văn Yên. Do vậy ghi/gọi: Lê Văn Miến là liền mạch xuống đến các con cháu của ông. (Còn ghi/gọi là Lê Huy Miến cũng là họ ấy thôi).

    3 . Nghiên cứu thu thập tư liệu về họa sĩ Lê Văn Miến (1870-1942). Người được coi là đầu tiên tiếp cận Mỹ thuật Âu Tây thời Pháp thuộc. Điểm đầu tiên là: tranh Chân dung cụ Tú Men 1898 (sơn dầu), bày ở BTMTVN. Rồi tiếp cận những nguồn tư liệu về tác giả/tác phẩm. Tiếp xúc với ông Lê Huy Ba - dịp ông ra Hà Nội 1979) và họa sĩ Lê Huy Trấp (đều là cháu của họa sĩ Lê Văn Miến) tìm hiểu về Lê Văn Miến.Tôi đã vào Huế (1982) gặp gia đình họa sĩ Lê Văn Miến. Lần ấy, đi cùng tôi có 2 họa sĩ Bửu Chỉ (Huế) và Lê Thanh Đức, được ông Lê Văn Yên (là con út) cho biết về cha mình. Những nét chính về Lê Văn Miến: Thời thiếu niên Học chữ Nho. Năm 1892 được triều đình Huế cử đi học Trường Thuộc Địa tại Pháp (1892-1898) chủ yếu ở Paris. Cùng đi có Hoàng Trọng Phu (con Hoàng Cao Khải) và Thân Trọng Huề, đều là con quan, thân cận trong triều đình Huế. Trong thời gian này ông học thêm ở trường Mỹ thuật. Theo gia đình “Ông Miến học mỹ thuật là do thích mà học. Chứ các người khác như Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề thì không”. Năm 1898 Lê Văn Miến về nước: Triều đình Huế bổ làm quan ở Bộ công, nhưng ông từ chối không nhận. Thời gian này dành thăm họ mạc, giao du bạn bè. Năm 1899 ra Hà Nội: làm việc cho nhà in S nây đơ( CHNEIDER) Hà Nội (in Ly tô, vẽ họa đồ, bản đồ). Các năm (1900-1907) ở Vinh (Nghệ An): Dạy học ở Trường Pháp- Việt. Khi phong trào “Đông Kinh Nghĩa Thục” ở Hà Nội phát triển ông tham gia tổ chức “Hoan Học Hội” (một Hội học ở Châu Hoan – Nghệ An) dùng văn hóa để tuyên truyền long yêu nước của quốc dân. Các năm (1908 – 1912) vào Huế: ở trường Hậu Bổ (Nguyễn Đình Hòe giám đốc, ông Miến làm phó) dạy học (Toán, Pháp văn và Địa lý). Các năm (1913- 1928) sang trường Quốc Tử Giám (Huế) làm đốc học và dạy học. Làm việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu. 1927 mắt mờ lòa. 1928 bị mù hẳn. Mất năm 1942.

    Lê Văn Miến vẽ ít, lại sang nghề dạy học là chính nên Mỹ thuật của Lê Văn Miến rất hạn chế. Tranh được thấy là Chân dung cụ Tú Men 1898 (BTMTVN). Các tư liệu về sáng tác chỉ còn biết qua nghe kể: Khi ở Nghệ An: khoảng 1902-1903 Lê Văn Miến có vẽ 2 chân dung (Cha và mẹ mình - tức vợ chồng Lê Năng Nghiệm) bằng sơn dầu, ông Lê Văn Chương cho biết tranh do Lê Văn Điệp giữ. Khi ra Hà Nội 1999-1900: có vẽ Chân dung Hoàng Trọng Phu (sơn dầu). Theo Lê Văn Chương còn nhìn thấy tranh trong “Triển lãm Cải cách ruộng đất” (khoảng 1955-1956). Khi ở Huế: (khoảng 1909-1926) vẽ Chân dung vua Khải Định (sơn dầu); Chân dung Măng Đa Rét (Menderès) (sơn dầu) bạn thân và là đốc tờ Pháp. Hai bức phong cảnh Điệu Ngọc trai (thuốc nước) và Cầu Trường tiền Huế (Bột màu) tặng Măng Đa Rét; Chân dung con trai Các lô Ty (sơn dầu); Chân dung vợ chồng Hồ ĐắcTrung (sơn dầu)… và một số phong cảnh, tĩnh vật.

Share:         LinkHay.com