E-mail        Print        Font-size  
  • NHÌN NHẬN ĐÚNG VÀ TRÂN TRỌNG VỀ LÊ VĂN MIẾN

    Hai bức tranh vẽ ông bà Nguyễn Khoa Luận được lưu giữ tại chùa Ba La Mật (Huế) . (Ảnh do họa sĩ Lê Huy Tiếp cung cấp. Nguồn Baomoi.com)





    Tác giả và bức tranh Bình Văn

    Tôi có hân hạnh được mời dự hội thảo. Rất tiếc nhận được giấy mời thì đã trễ. Thay vì vắng mặt không được nghe tham luận, tôi viết bài này góp ý với hội thảo. Và cũng để góp ý kiến bài viết "Cần làm rõ ảnh Thành Nam- trường thi cuối cùng thời cận đại và tranh Bình Văn ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam" của ông Nguyễn Văn Chiến - Tạp chí Mỹ thuật số 259 & 260 (7-8/2014) để rộng đường dư luận.

    Tranh Lê Văn Miến trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với tiêu đề: "Bình văn. Lê Văn Miến. Sơn dầu 1896?". Người phát hiện là nhà nghiên cứu - phê bình mỹ thuật có tên tuổi Thái Bá Vân (1934 - 1999), nguyên chuyên viên tư liệu - dịch thuật Viện Mỹ thuật (khi Bảo tàng còn trực thuộc Viện) do họa sĩ - nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung (1912 - 1977) là Viện trưởng kiêm Giám đốc Bảo tàng. Qua tư liệu và con mắt nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu - sưu tầm đều nhất trí đây là một bức tranh đẹp, quý hiếm có giá trị nghệ thuật, lịch sử. Người vẽ có chuyên môn vững, được đào tạo chính quy kinh điển của nhà trường mỹ thuật Phương Tây, nên giới thiệu ở Bảo tàng. Tôn trọng ý kiến của các cán bộ chuyên môn, ông Viện trưởng - Giám đốc đồng thuận mua và giới thiệu bức tranh tại phòng mỹ thuật Việt Nam cận hiện đại của Bảo tàng. Nhưng phải đánh dấu hỏi(?) về lời đề tác giả, tác phẩm, niên đại tranh, để người xem thấy Bảo tàng còn tiếp tục tìm hiểu, chưa khẳng định. Là chuyên viên nghiên cứu từ ngày thành lập Viện và Bảo tàng, tôi thấy có trách nhiệm là người trong cuộc phải nói lên sự thật thay những đồng nghiệp đã khuất cho sự việc được minh bạch, sáng tỏ. Bởi họ là những người vốn trung thực, tận tụy với khoa học và nghệ thuật.

    Đường dẫn tới cái tên Lê Văn Miến - Niên đại bức tranh dần hé mở.

    Người cháu đích tôn của cụ Tú Men, là ông Nguyễn Cẩm (nhà ở phố Hàng Bông Nhuộm) có hảo tâm đã mang bức tranh Chân dung cụ Tú Men (Sơn dầu 1898) do Lê Văn Miến vẽ thầy học của mình tặng cho Bảo tàng. Bảo tàng cũng lại phát hiện được bức tranh Bình Văn của Lê Văn Miến (tên tranh các nhà nghiên cứu đặt theo đề tài). Ông Nguyễn Cẩm tự bạch chân thành: "Đây là tranh thờ của gia đình tôi. Nếu thờ ở nhà chỉ có con cháu biết. Nhưng bày ở Bảo tàng thì được nhiều người xem, vừa vinh dự cho gia đình, vừa biết đến tên tuổi của người họa sĩ tài đức đã quá cố gần như mai danh ẩn tích, ít người biết đến". Cuộc gặp gỡ tương ngộ, tương phùng thật bất ngờ của hai bức tranh, cùng một tác giả, được xem là "cái gốc hợp lưu khởi nguồn của dòng chảy Lê Văn Miến". Đối chiếu, so sánh phong cách, bút pháp, đề tài ở hai bức tranh, người có chuyên môn dễ nhận ra sự gặp gỡ, nếu không muốn nói là phương pháp tả thực khá đồng nhất trên chất liệu sơn dầu phương Tây.


    Chân dung họa sĩ Lê Văn Miến


    Dù đã tiếp cận sự thật, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa an lòng. Dịp may khác lại đến. Năm 1979 - 1981, nhà nghiên cứu - phê bình Thái Bá Vân được mời thỉnh giảng hai trường Đại học Mỹ thuật và Đại học Tổng hợp Huế. Tại đây, qua bè bạn giới thiệu, ông Vân được gặp trực tiếp người con trai út của cố họa sĩ Lê Văn Miến là ông Lê Văn Yên. Ông Yên đã kể tỉ mỉ về cuộc đời và sự nghiệp của cha mình cho ông Vân nghe và ghi chép. Ngoài ra, ông còn mời ông Vân xem gia phả của gia đình và dòng họ Lê Huy, Lê Văn của ông. Cuộc gặp gỡ đã sáng tỏ thêm nhiều vấn đề như: "Cha tôi tên họ đầy đủ là Lê Văn Miến. Không lót chữ "Huy" như nhiều người quen gọi. Tên tôi là Lê Văn Yên, liền mạch, trực hệ. Tên lót "Huy" người trong họ quen dùng, cũng không hề gì... Bức Bình Văn Bảo tàng trưng bày, tôi không được biết nhiều và cụ thể, nhưng tôi quả quyết rằng cái tình nghĩa Thầy - Trò - "Tôn sư trọng đạo" của Nho học với cha tôi, thì lúc nào cũng sâu nặng, luôn canh cánh bên lòng. Cha tôi vẽ Chân dung cụ Tú Men hay bức Bình Văn đã chứng minh cụ thể, cũng dễ hiểu, dễ lý giải. Thời đó chính quyền thuộc địa chưa mở các trường nghệ thuật ở Đông Dương. Cả Trung - Nam - Bắc mấy ai được học tập, tu nghiệp ở Pháp, mấy ai đã vẽ sơn dầu theo phương pháp hội họa tả thực phương Tây cổ điển như cha tôi", lời ông Yên. Ông Vân thuật lại.

    Bức ảnh Thành Nam của Armand Rousseau đã xáo trộn gây nghi ngờ bức Bình Văn giàu ấn tượng của Lê Văn Miến.

    Nếu so sánh bức ảnh Thành Nam với tranh Bình Văn, nhìn bằng con mắt thông thường, bố cục chung và đề tài gần như trùng lặp. Nhưng nếu quan sát bằng cặp mắt của người họa sĩ và nhà nghiên cứu, thì khác, không hẳn như vậy. 1/ Với ảnh, nền sau là cửa mở, có khung trời trắng sáng. Hai bức tường hai bên cửa mở, chỉ có bóng tối sẫm. Hai manh chiếu ghép mép chồng lên nhau trên mặt phản (bục) rất rõ. Cảnh vật, con người qua ống kính, tất cả đều nệ vào tự nhiên, không thể thêm bớt. 2/Với tranh, nền lớp sau (deuxième plan) không có khung cửa mở và bầu trời. Thầy đồ đứng, các nho sinh ngồi chú mục trước quyển. Từ trang phục đến diện mạo, nhân vật nào cũng có thần, có hồn, bộc lộ rõ bản sắc Việt. Không gian tranh giàu sắc độ, thoáng đãng, hài hòa, giản lược hơn ảnh. Phản ngồi học trải một lớp vải mềm, không có những mép chiếu ghép chồng lên như ảnh. Nhìn chung, đó là bức tranh có tư duy sáng tạo đã lọc ra từ hiện thực điển hình cuộc sống. Khác hẳn với không gian tự nhiên của ảnh chụp. Rõ ràng ảnh và tranh có hai vẻ đẹp, hai ngôn ngữ khác nhau tỉ lệ chênh lệch rõ rệt về tầm nhìn cái đẹp của hai loại hình.

    Tranh không đề tên tác giả, năm tháng sáng tác, có phải vì họa sĩ sợ trùng hợp đề tài với bức ảnh, gây ấn tượng không tốt cho nghệ thuật? Hay ông khiêm nhường, tự trọng, chỉ coi đây như bức vẽ nghiên cứu (Étude), nên không cần ký tên và đề năm tháng?

    Cứ cho là Lê Văn Miến mượn đề tài của ảnh mà chuyển thể sang tranh, thì đã sao? Ai cũng biết đề tài chỉ là cái cớ cho người nghệ sĩ sáng tác. Vấn đề là đề tài có làm đẹp, làm sang có sáng tạo cho tác phẩm hay không mới cần bàn. Các kịch tác gia, đạo diễn điện ảnh đã từng chuyển thể không ít tác phẩm văn chương sang sân khấu, màn hình, lại mang cùng tên, đâu có bị lên án là sao chép, "đạo" tác phẩm? Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn còn hay hơn cả bản gốc. Người đọc cảm phục và suy tôn bà còn hơn Đặng Trần Côn nữa. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng thế. Nhà thơ lấy tích truyện của tác giả Trung Quốc. Ai dám bảo Nguyễn Du là "đạo" tác phẩm của tác giả Trung Quốc? Nay Lê Văn Miến lại bị mấy nhà nghiên cứu phê bình nặng lời “lên án”?

    Lời kết

    Vì những lý do khoa học, lịch sử, nghệ thuật của bức tranh và sự thật đã được khai mở, tôi đề nghị Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn giữ nguyên vị trí danh dự, trang trọng của tác giả, tác phẩm, nhưng phải để những dấu hỏi như ông Viện trưởng - Giám đốc vốn thận trọng khắt khe trong nghiên cứu đã đề ra, thì không có vấn đề gì phải bận tâm về học thuật.

    Về năm tháng vẽ bức tranh có thể đề 1896 - 1898, đánh dấu hỏi (?). Dù họa sĩ còn ở Pháp hay đã về nước mà vẽ cũng không quan trọng. Vấn đề là đề tài, cảm xúc và tài năng thể hiện tác phẩm đã tốt, thì không còn gì phải bận tâm.

    Năm tháng đã đi qua. Kỉ niệm vẫn còn lại. Mỹ thuật cổ điển và tân cổ điển phương Tây đã tạo ra dấu ấn rõ nét qua tiếp cận với cái thực thực sự và cái thực nghệ thuật với Lê Văn Miến, thì tranh Bình Văn của ông có gần ảnh, cũng là lẽ tự nhiên, lôgíc của hành trình nghệ thuật đương thời. Hãy xem lại những tác phẩm hội họa, điêu khắc của các họa sĩ, nhà điêu khắc phương Tây từ thời Phục hưng Ý đến thời cổ điển, lãng mạn, tân cổ điển Pháp như: Michelangelo, Leonardo da Vinci, Raphael, Delacroix đến Gauguin, Van Gogh, Renoir, Degas; Tượng của Rodin, Maillol… ta sẽ hiểu và cảm thông với Lê Văn Miến. Phải đặt sự việc vào đúng hoàn cảnh lịch sử của nó, thì mới hiểu, mới giải đáp được vấn đề, mới trân trọng những giá trị tinh thần của người nghệ sĩ - trí thức đã quá cố. Khi nhà nghiên cứu phê bình đặt bút viết, sử dụng ngôn từ, cụm từ như: " viết lịch sử mỹ thuật mà luộm thuộm quá!", "tranh Bảo tàng mà vẽ/chép ảnh/nhái/đạo ảnh…" dù mượn lời người xem cũng dụng ý không tốt. Đó là cách nói xô bồ, thiếu thận trọng, thiếu suy nghĩ, nằm ngoài phạm vi học thuật. Trường hợp này tác giả và những nhà trưng bày đều thuộc hàng nghệ sĩ trí thức có cả Nho học và Tây học, được đào tạo chính quy, kinh điển ở những nước tiên tiến có bề dày văn hóa trí thức vững vàng như nước Pháp, thì người đánh giá cũng phải có cái nhìn sâu rộng, ngang tầm. Nếu không, sẽ trật, lạc đề, vô nghĩa vì sự so le, chênh lệch quá xa về kiến thức, nhận thức giữa người vẽ và người nghiên cứu phê bình.


    Trần Thức

Share:         LinkHay.com