E-mail        Print        Font-size  
  • Họa sĩ - Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tỵ

     NGUYỄN VĂN TỴ - Phong cảnh Tây Nguyên . 1991. Sơn mài


    Họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ sinh ra và lớn lên tại Hà Nội - cái nôi của nền nghệ thuật Việt Nam.

    Nơi đây đã tác động không nhỏ đến cuộc sống và sự lựa chọn hướng đi của ông sau này trên con đường tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam.

    Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa XI (1936- 1941) cùng các bạn Nguyễn Tiến Chung, Trần Văn Lắm (điêu khắc), Hoàng Tích Chù, Bùi Trang Chước, Nguyễn An Trung, Trịnh Vân, Nguyễn Văn Mẫn, ông đã có bút pháp riêng từ ngày ra trường.

    Trước Cách mạng Tháng Tám, mặc dù sống trong xã hội thực dân phong kiến, phân hóa giai cấp, bao sự cám dỗ mê hoặc vẫn không làm ông sa ngã. Ông khước từ địa vị, tiền của, đi theo con đường nghệ thuật mới đầy bản lĩnh và nhân cách nghệ sĩ-công dân. Thời gian này ông đã nổi tiếng với những bức tranh hiện thực: "Chân dung bà tôi" (sơn dầu), "Thuyền gạo Sông Hồng" (lụa), "Vịnh Hạ Long", "Đình Chèm" (sơn mài). Và đặc biệt bức khắc gỗ "Trẩy hội" sáng tác năm 1936 được ông giữ gìn cẩn thận trong bộ sưu tập gia đình. Với gam màu lạnh, xanh xám, ngả tím, hai cô gái Mường trong xiêm áo dân tộc đi hội; mảng núi tím biếc phía xa in hình cánh cò trắng bay cao, một gốc mai nở gợi nhớ kỉ niệm êm đềm tuổi trẻ. Về sau, ông vẽ biến thể bức tranh này trên chất liệu lụa, sơn mài, màu sắc tươi tắn hơn nhưng vẫn lắng đọng những kỉ niệm một thời xưa cũ.

    Cách mạng tháng Tám thành công, tiếp đến là Toàn quốc kháng chiến. Ông từ bỏ xưởng họa quen thuộc của mình tại Hà Nội, gia nhập vào dòng người lên chiến khu ra mặt trận với hành trang mang theo là lòng yêu nước chân thành. Tập ký họa kháng chiến của ông nhiều lên theo năm tháng, qua các địa danh quen thuộc như "Làng chiến đấu Lệ Sơn", "Cự Nấm", "Cảnh Dương" (khu IV) từ "Chiến dịch biên giới" đến "Chiến dịch Điện Biên Phủ". Với kiến thức uyên bác, ông tham gia giảng dạy mỹ thuật tại hai trường mỹ thuật ở Quần Tín (Thanh Hóa) và Việt Bắc do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng.

    Quan niệm của ông về nghệ thuật là: Tổ quốc-Dân tộc-Nghệ sĩ. Điều này thể hiện rất rõ trên những tác phẩm cũng như trên trang viết tham luận diễn đàn hội nghị. Từ những tranh sơn mài mang tính sử thi như "Du kích Bắc Sơn về bản", "Đấu tố địa chủ", "Xô viết Nghệ tĩnh" (đồng tác giả), "Đêm Noel 1972 ở Hà Nội" đến những tranh phong cảnh "Nhà tranh gốc mít", "Phong cảnh Pắc Bó", "Buồm cửa Hàn", "Lưới cửa Hội".

    Sau năm 1975, đất nước thống nhất, ông đi Tây Nguyên về miền nắng gió với những kí họa về địa danh "Bù Gia Mập", "Du kích miền núi", "Làng Chài". Ông để nhiều công sức, tài năng trong bộ sưu tập sơn mài về cảnh và người của Tây Nguyên hùng vĩ. Đó cũng là những tác phẩm cuối đời của ông. Cần mẫn, thận trọng trong từng mảng màu, đường nét; hội họa Nguyễn Văn Tỵ như là chính con người ông vậy. Mực thước, hài hòa trong tư duy sáng tạo, biểu cảm trong chất liệu, tác phẩm sơn mài Nam Bắc một nhà đã nổi tiếng ngay từ khi ra đời với quan niệm cách tân sơn mài của ông trong hội họa hiện đại.



    NGUYỄN VĂN TỴ - Du kích mũ nan. 1949. Khắc gỗ

    Những năm 70-80, từng trang viết phê bình mỹ thuật sắc sảo, những phát biểu mạnh mẽ, thuyết phục trên diễn đàn đã đưa Nguyễn Văn Tỵ vào hàng ngũ các nhà phê bình nghệ thuật hiếm hoi nhưng thành danh trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

    Thời cận đại, những bài phê bình mỹ thuật của ông không duy mỹ như Tô Ngọc Vân, không mãnh liệt như Nguyễn Đỗ Cung mà tìm về chiều sâu thẳm của tư duy làng xã, nếp xưa. Cùng họa sĩ Trịnh Vân (người Nam Bộ cùng khóa học), ông viết bài trên tạp chí Tri Tân-nơi tôn chỉ "Ôn cũ biết mới". Nhận xét già dặn, khiêm nhường của ông dẫn dắt người xem về cội nguồn văn hóa Việt. Ở vai trò một người nghiên cứu phê bình mỹ thuật, Nguyễn Văn Ty đặt nhiệm vụ người cầm bút cần tỉnh táo nhận xét đánh giá tác phẩm, tư cách nghệ sĩ trong từng hoàn cảnh lịch sử, chiêm nghiệm từng thử thách, ứng xử văn hóa.

    Trong những năm đầu lên chiến khu Việt Bắc, còn bồi hồi xúc động, hình ảnh kỉ niệm "Ngày toàn quốc kháng chiến", "Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa", "Cuộc ra đi của trung đoàn Thủ đô", hình ảnh hai cuộc triển lãm lớn những ngày đầu cách mạng thành công: Triển lãm Văn hóa 1945 và Triển lãm Mỹ thuật tháng 8/1946 đã được ông ghi lại trong bài tiểu luận đăng trên báo Tiền Phong các số 16-21 năm 1946 đầy trách nhiệm dự báo cho hướng đi của Hội họa Việt Nam sau này.

    Với tiêu đề “Bàn về vài tác phẩm tại Triển lãm Mỹ thuật tháng Tám: Ảnh hưởng mới - Thời đại cũ. Từ tượng trưng đến lập thể”. Ở tiêu đề này, Nguyễn Văn Tỵ đã lập được chuỗi danh sách những họa sĩ có bước đầu phá cách tìm đến cái mới trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Mai Văn Hiến, Phan Kế An, Dương Bích Liên, Tạ Tỵ, Nguyễn Thuận, Nguyễn Đỗ Cung. Mặc dù ông viết "Sự tình cờ khiến tôi xếp đặt được bản tên trên, cái cớ tự nhiên là để tìm một hệ thống cho các tác phẩm trưng bày, đầu mối cho mọi việc nghiên cứu nghệ thuật..." nhưng ông đã thẩm định được ngay phong cách Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân - hai trong bốn người của nhóm tứ trụ cận đại cũng như phân tích sự khác biệt về lập thể của Tạ Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung, cái nhen nhóm lan man siêu thực của Phạm Đăng Trí (Huế) và Vũ Dương Cư mà tên tranh trong triển lãm tháng Tám 1946 đã gợi lên "Đêm trăng", "Vườn sương" (Vũ Dương Cư); "Hoa sen", "Khiêm lăng", "Người suối bạc" (Phạm Đăng Trí).

    Ở phần nhận định này ông kết luận: "Từ khuynh hướng tượng trưng đến lập thể, tôi nhìn thấy ảnh hưởng của nhiều trường phái không còn vững trong địa hạt nước ta nữa. Chắc chắn cùng thời gian trường họa Việt Nam sẽ giàu thịnh và súc tích nhiều hơn nữa. (Báo Tiền Phong số 16- 1946)".



    NGUYỄN VĂN TỴ - Trẩy hội. 1936. Khắc gỗ

    Tiếp theo là một số tiểu luận về hội họa được Nguyễn Văn Tỵ nghiên cứu và công bố trên báo Tiền Phong số 20, năm 1946 với Tiêu đề "Hội họa cổ điển và Hội họa độc lập". Ở tiểu luận này phần mở đầu ông đã lập một danh sách theo khuynh hướng này: Lương Xuân Nhị, Nguyễn Khang, Phạm Hậu, Hoàng Tích Chù, Tạ Thúc Bình, Nguyễn Đình Phúc, Văn Giáo, Văn Cao, Phạm Khanh, Phạm Văn Đôn, Trần Phúc Duyên, Trần Đình Thọ, Phạm Tăng, Nguyễn Quang Phòng.

    Thứ tự danh sách này theo Nguyễn Văn Tỵ cũng như danh sách trường họa mới là những họa sĩ đã tham gia Triển lãm mỹ thuật Tháng Tám 1946, một triển lãm mà theo ông đánh giá lần cuối những nghệ sĩ sẽ dấn thân trên con đường tìm về bản ngã. Và sau này lịch sử đã chứng minh các họa sĩ cổ điển đã góp phần không nhỏ hình thành nền nghệ thuật hiện thực cách mạng mang nét riêng của hội họa Việt Nam.

    Cũng vậy, với khả năng dự báo cao về chuẩn mực và hướng đi của hội họa Việt Nam, ông đã vượt qua định kiến hẹp hòi giá trị nghệ thuật đương đại. Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1980, một cuộc triển lãm họp mặt đầu tiên nghệ sĩ hai miền Nam Bắc khi nước nhà thống nhất, Nguyễn Văn Tỵ đã nhìn ngay ra được nét phá cách, báo hiệu một phong cách hội họa mới đã được bắt đầu qua một chuỗi bài viết trên báo Nhân Dân tháng 1 năm 1981 về các loại hình nghệ thuật, đặc biệt là chất liệu, phong cách sáng tác trên tranh sơn dầu, sơn mài. Dự báo của ông rất đúng. Tranh sơn dầu của Đặng Thị Khuê cùng tranh của các họa sĩ trẻ: "Sài Gòn" của Nguyễn Trung, "Chân dung người lính" của Nguyên Khai, "Hai cô gái tổ sơn", "Nhà máy toa xe" của Dĩ An theo phong cách mới đã lọt vào Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sau khi triển lãm kết thúc.

    Lập luận và lý giải nghệ thuật của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tỵ là mẫu mực, khoa học, thuyết phục khi đánh giá tài năng của các họa sĩ bậc thầy. Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí trên các diễn đàn học thuật. Ông đã để lại nhiều bài học từ nhận định đến phân tích, từ phản biện đến ca ngợi cho các nhà nghiên cứu kế cận.

    Tài sản họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ để lại cho đời là các tác phẩm kinh điển, là các trang viết già dặn trí tuệ. Và trên hết đức độ, tài năng khiêm nhường của ông luôn được nhắc đến, từ quá khứ đến hôm nay và mãi mãi về sau.

    Nguyễn Hải Yến

Share:         LinkHay.com