E-mail        Print        Font-size  
  • Một chuyến đi "vét các binh trạm"

    Tây Nguyên tháng 3/1975. Từ trái sang: họa sĩ Hoàng Minh Hằng, một đồng chí bộ đội, họa sĩ Trần Văn Cẩn, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ và họa sĩ Tạ Diệu Hương





    Tạp chí Mỹ thuật số 281-282 (5-6/2016) trang 7 đăng ảnh danh họa Trần Văn Cẩn và họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ chụp ở Buôn Mê Thuột tháng 3-1975, đứng giữa là hai cô gái. Tạp chí chú thích ảnh: “Hai họa sĩ chụp với hai chiến sĩ xung kích sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên”*. Chúng tôi xem rất thích thú và vinh dự vì mình được phong là “chiến sĩ xung kích”. Chúng tôi không muốn đính chính tấm ảnh đó, nhưng một số người bạn cùng lớp sơ trung 7 năm trường Mỹ thuật Yết Kiêu Hà Nội nhận ra chúng tôi và muốn chúng tôi viết về cuộc hành trình vượt Trường Sơn này...

    ...Khoảng tháng 10 năm 1974, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam tổ chức cho các văn nghệ sĩ tình nguyện đi sáng tác ở Tây Nguyên và Nam Bộ một năm.

    Hồi ấy, Hương đã tốt nghiệp đại học Mỹ thuật Yết Kiêu hơn ba năm, Hằng hơn hai năm. Chúng tôi cùng làm biên tập viên mỹ thuật cho Nhà xuất bản Phổ thông, trực thuộc Tổng cục thông tin. Sau khi được Hội Mỹ thuật Việt Nam duyệt phương án, chúng tôi xin phép cơ quan chủ quản và được nghỉ một năm vào chiến trường sáng tác. Lúc ấy, tuyến lửa “đi B” là ưu tiên đặc biệt, nên mọi thủ tục dễ dàng với chúng tôi.

    Danh họa Trần Văn Cẩn làm trưởng đoàn đi Tây Nguyên, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ là phó đoàn, có ba thành viên: Tạ Diệu Hương, Hoàng Minh Hằng và Lê Văn Tài. Chúng tôi họp nghe phổ biến về chuyến đi, tuyệt đối không mang theo giấy tờ cá nhân, không mang theo tiền, toàn bộ tư trang do quân đội cấp như một người lính (quần áo, mũ tai bèo, khăn rằn, tăng, võng...) phòng khi bị bắt, đối phương không biết chúng tôi là ai, làm gì. Nhưng chúng tôi được mang theo cặp, giấy, màu nước, gọn nhẹ để làm việc.

    Đáng lẽ, khoảng 11-1973, chúng tôi lên đường, nhưng đoàn đi trước của nhạc sĩ Đỗ Nhuận bị đánh bom suýt trúng xe, nên chúng tôi bị hoãn lại. Cuối tháng 3 năm sau, tình hình chiến trường sáng sủa hơn, chúng tôi được lệnh khởi hành. Khi tập kết, chúng tôi mới biết mình đi chung đoàn vào Nam Bộ với họa sĩ Huỳnh Văn Thuận, nhà nhiếp ảnh Hồng Nghi (bên hội điện ảnh) và họa sĩ Phạm Hữu Trí (Báo Văn nghệ).

    Chặng đầu tiên, chúng tôi đi cả ngày và đêm bằng xe ca từ Hà Nội vào. Tới binh trạm đầu tiên khoảng 4 giờ sáng, trời vẫn còn tối. Hằng xuống xe nhờ bác Cẩn: “Bác đưa giúp cháu cái cặp vẽ”. Họa sĩ Phạm Đỗ Đồng (anh rể Hương) và họa sĩ Nguyễn Chí Hiếu ở chiến trường ra, vừa xuống xe, nghe “cặp vẽ” biết ngay “quân ta” nên đi tới. Thấy chúng tôi, các anh ôm chầm lấy mừng rỡ, tất cả mọi người gặp nhau, vui vẻ hàn huyên với nhau. Ở binh trạm này, chúng tôi nghỉ lại ba hôm chờ xe. Hôm sau, gặp đoàn đài phát thanh trung ương, phóng viên các báo, binh trạm thông báo có xe đi ngay, Lê Văn Tài liên hệ, họ cho chúng tôi đi cùng. Nhưng mấy hôm trước, chúng tôi đi suốt ngày đêm, mọi người còn mệt, bác Cẩn quyết định cả đoàn nghỉ lại đợi xe của binh trạm đưa đi. Dọc đường nhiều những hố bom nham nhở, sâu hoắm, chúng tôi chợt nhớ đến mùa hè đỏ lửa năm 1966 nửa lớp 7 năm I, 7 năm II cùng thầy Huy Oánh và thầy Đỗ Hữu Huề... những trận bom giặc Mỹ bên cầu Hàm Rồng, cầu Đò Lèn trong đợt đi thực tập vẽ thanh niên xung phong. Khi tới binh trạm kế tiếp, chúng tôi gặp đoàn nhà báo, đài bị thương đi ngược chiều ra Bắc, ai cũng băng bó, người đầy thương tích, xe họ bị lao xuống hố bom. Chúng tôi rất may mắn không đi chuyến đó.

    Vào Trường Sơn, chúng tôi đi bằng xe tải, có mui che, đêm đi, ngày nghỉ lại các binh trạm. Khi ấy, đường Trường Sơn là đường đất rộng, gồ ghề, mật độ giao thông lớn nên lớp bụi đất trên đường dày tới 20cm. Ngồi trên xe xóc, đầu đụng trần liên tục. Trời nắng, bụi mù mịt, chúng tôi đeo hai lớp khẩu trang mà mũi, miệng, cả người bê bết bụi đất. Trời mưa, đường ngập bụi trơn trượt, xe không thể leo núi được phải nằm lại dọc đường. Liên tục có báo động máy bay, xe phải dừng lại bên đường. Khoảng cách từ binh trạm này tới binh trạm khác chỉ một đêm đi xe, nhưng các binh trạm đều phát lương thực ăn vài ngày. Xe dồn lại nối đuôi nhau dài cả cây số. Khi chúng tôi xuống sông lấy nước nấu cơm, các chiến sĩ gọi: “Hai cô văn công đi đâu đấy?”. Chúng tôi gầy, không giống thanh niên xung phong, tất nhiên phải giống văn công rồi. Còn khuôn mặt các chiến sĩ trẻ trung có, khắc khổ có, từng trải có, tất cả cùng chân chất và ánh lên một sức sống bền bỉ trên đường hành quân với niềm tin và khát vọng ngày toàn thắng đang đến gần.


    Đường Trường Sơn, tháng 3 năm 1975. Từ trái sang: họa sĩ Phạm Hữu Trí, họa sĩ Hoàng Minh Hằng,
    họa sĩ Trần Văn Cẩn, họa sĩ Tạ Diệu Hương, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ


    Chúng tôi đi theo tuyến đường làm cho ông hoàng Sihanouk và bà Monique đi, nên các binh trạm dù thô sơ: lán mái lá, giường là những cành cây khép lại, nhưng đều ở ven suối đá, phong cảnh rất đẹp, rất trữ tình. Trên núi chúng tôi đi tới đâu thì dưới đồng bằng giải phóng tới đó. Khi chúng tôi tới, các binh trạm đón tiếp rất chu đáo, nhưng lúc đó họ đều đang gói ghém mọi thứ để chuyển vào tuyến trong. Chúng tôi tự gọi mình là những người “đi vét các binh trạm”. Thường tới nơi, nghỉ ngơi xong là bác Cẩn, bác Tỵ, bác Thuận, bác Hồng Nghi ngồi pha trà uống, đàm đạo với nhau. Chúng tôi được dặn trước khi đi: “Tới các binh trạm không được ra ngoài, đề phòng thám báo hoặc vướng mìn, nhất là mìn lá do máy bay Mỹ rải”. “Các cụ” chấp hành nghiêm chỉnh. Còn chúng tôi lúc ấy trẻ, liều, “điếc không sợ súng”. Các binh trạm đóng ở những nơi phong cảnh quá đẹp, nhiều giỏ phong lan bám vào cây đã nở hoa, quá quyến rũ, nên sau khi ngủ một giấc, quá trưa là chúng tôi lang thang dọc suối ngắm cảnh và tranh thủ vẽ ký họa phong cảnh, kịp ghi lại những cây cối gãy nát, cung đường Trường Sơn bị cày xới bởi những đợt rải thảm của B52. Nhiều khi chúng tôi đi xa binh trạm vài cây số, thỉnh thoảng anh Trí đi cùng chúng tôi. Có lần, bác Cẩn phát hiện đã cảnh báo nhưng chúng tôi không chừa được, bác Cẩn, bác Tỵ luôn quan tâm động viên chăm lo cho “hai nữ chiến sĩ xung kích” chúng tôi.

    Những đêm chúng tôi “hành quân”, trời đều rất đẹp, trăng tỏ hoặc trăng lu, đêm nào cũng có đầy trăng sao. Nơi đại ngàn, Trường Sơn hùng vĩ, trùng điệp, đường núi cheo leo ven những hố bom, những vực sâu. Trên đường từng đoàn xe tăng ầm ĩ di chuyển, nườm nượp các cánh quân và từng đoàn xe tải chở quân trang và lính vào. Đường Trường Sơn rộn ràng, náo nức, chuẩn bị cho trận đánh lớn.

    Đi vài ngày, tuyến đường rẽ sang Lào. Chúng tôi đi ban ngày, qua cánh đồng Chum, qua bình nguyên trải dài những rừng khộp thoáng đãng, thanh bình. Thỉnh thoảng gặp các vạt rừng có những cây săng lẻ to, cao vút. Đường phẳng, ít bụi, không khí trong lành, có những hố bom, những cây cối gãy đổ ngổn ngang, chứng tích của chiến tranh. Qua ngã ba Đông Dương có đường quay về Việt Nam. Tháng ba “mùa con ong đi lấy mật”, khí hậu Tây Nguyên mát rượi. Chúng tôi đi từ Kon Tum qua Pleiku tới Buôn Mê Thuột. Suốt dọc đường hoa café nở rộ, trắng ngần, thơm lừng, khiến chúng tôi ngất ngây say đắm.

    Tới Buôn Mê Thuột, thủ phủ của Tây Nguyên lúc này đã giải phóng, chúng tôi ở khách sạn Đắk Lắk, một khách sạn tư nhân. Ông chủ khách sạn trên 50 tuổi, người tầm thước, tính tình phóng khoáng, cởi mở, hồ hởi và luôn tươi cười. Chúng tôi nói vui: Khách sạn như một “binh trạm hạng sang”, đón các đoàn cán bộ, nhà báo, văn nghệ sĩ ra Bắc, vào Nam tấp nập, ăn ở hoàn toàn miễn phí. Ở đó hai hôm, chúng tôi chia tay với bác Thuận, bác Hồng Nghi, anh Trí đi tiếp vào Nam Bộ. Chúng tôi có một số ảnh trên đường đi và sau này vào Sài Gòn là do bác Hồng Nghi chụp tặng. Khi chúng tôi tới nơi, Ban Quân quản cử người đi cùng hướng dẫn, chụp ảnh những hoạt động của đoàn họa sĩ ở Ban Mê Thuột, lúc đó ảnh rất quý hiếm.

    Một kỷ niệm mà đến bây giờ chúng tôi còn nhớ mãi, ngày đầu, mấy bác đi tham quan thấy bán đào lộn hột, quả lạ, màu vàng đẹp mắt nên chắc ăn được họ mới bán. Chúng tôi mua, bác Tỵ, bác Cẩn, Hằng cắn vào một miếng vội nhả ra ngay. Đào chưa chín, nhựa làm bỏng môi, cả tuần đó ba người phải cười duyên chúm chím. Bác Tỵ bị nặng nhất, chắc cụ cắn miếng to. Chỉ Hương luôn từ tốn là thoát. Bác Cẩn, bác Tỵ và chúng tôi liên tưởng nếu có các bạn cùng học lớp 7 năm trường mỹ thuật đi cùng và vẽ thì thi vị biết bao.

    Khoảng giữa tháng 4/1975 tin chiến thắng dồn dập, tỉnh ủy Đắk Lắk chuẩn bị làm mít-tinh mừng ngày giải phóng, chúng tôi được mời tham gia trang trí khán đài, bác Cẩn vẽ ma-két tổng thể còn Hương và Tài vẽ ảnh Bác Hồ thật lớn, còn Hằng cắt dán khẩu hiệu.

    Những ngày sau đó, Ban Quân quản tổ chức cho chúng tôi đi vẽ hồ Lắk, cách Ban Mê Thuột khoảng 70 đến 80 cây số. Đấy là một hồ lớn, đẹp, trên đỉnh một ngọn núi ven hồ có dinh Bảo Đại. Các bản người dân tộc ven hồ đẽo thuyền độc mộc bằng những cây gỗ lớn, thuyền đẹp như một khối điêu khắc, để đánh cá và giao thông trên hồ. Họ nuôi voi để cưỡi và chuyên chở đồ. Thầy Cẩn, thầy Tỵ tận tình chỉ bảo chúng tôi từng chi tiết, khi lấy tài liệu qua ký họa, các thầy có những gợi ý rất nhẹ nhàng mà sâu sắc, đôi khi lại dí dỏm nữa.

    Khoảng giữa tháng 5/1975, chúng tôi liên hệ được một chỗ trên xe con của đoàn nhà báo đưa bác Cẩn đi trước. Hôm sau, chúng tôi lên tỉnh ủy Đắk Lắk liên hệ xin được hai vé xe khách đi Sài Gòn.

    Cuối cùng, chúng tôi gặp lại nhau và may mắn chứng kiến không khí rộn rã hòa hợp, cởi mở và bình yên của thành phố Sài Gòn những ngày mới giải phóng. Một chuyến đi với biết bao kỷ niệm, đặc biệt được “tháp tùng” các bậc đại thụ của hội họa nước nhà, và “gia tài” của chúng tôi có những ký họa sống động hơi thở không khí chiến thắng 30/4. Chuyến đi sáng tác với bác Cẩn, bác Tỵ ở Tây Nguyên và Nam Bộ dịp tháng 4,5/1975 được ghi nhớ mãi trong ký ức của chúng tôi.

    Tạ Diệu Hương – Hoàng Minh Hằng

    (*) Lời cảm ơn của tác giả Quang Việt: trong bài “Một kho báu của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam", đăng trên Tạp chí Mỹ thuật số 281&282 (5-6/2016), tôi có chọn in một tấm ảnh với lời chú thích: "Tây Nguyên tháng 3/1975. Họa sĩ Trần Văn Cẩn và họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ cùng hai thanh niên xung kích sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên". Ngay sau khi báo ra, tôi đã được một số cựu học sinh Khóa 7 năm I Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam cho biết: hai cô gái đội mũ tai bèo trong ảnh chính là hai họa sĩ Tạ Diệu Hương và Hoàng Minh Hằng.

    Bức ảnh này do họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng tôi đã lâu, nhưng đáng tiếc là ông lại không cho đủ thông tin về bức ảnh. Nhân TCMT đăng bài viết rất xác thực và cảm động này của hai họa sĩ Tạ Diệu Hương và Hoàng Minh Hằng, tôi xin có lời cảm ơn hai chị. Chúc hai chị khỏe mạnh, hạnh phúc và có thêm nhiều tranh mới.

Share:         LinkHay.com