E-mail        Print        Font-size  
  • Nhớ về những ngày hào hùng trước và sau cách mạng tháng 8/1945 của sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương

    Họa sĩ Phan Kế An (ngoài cùng bên phải) chụp với Từ Giấy (ở giữa) và họa sĩ Bùi Xuân Phái ở Đại hội Thanh niên năm 1949







    Trước cách mạng tháng 8/1945, giới mỹ thuật nước ta đã có những thành tựu đáng kể, có những tác phẩm rực rỡ có tiếng vang trong nước và ở một số nước phương Tây. Hầu hết các nhà mỹ thuật đều có tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ghét đế quốc đang đô hộ, nhưng còn hiếm những người dấn thân cho lý tưởng yêu nước. Rất nhiều họa sĩ say mê nghệ thuật, cố tìm cho mình một phong cách Việt Nam, một phong cách Á Đông, đó cũng là cách thể hiện tinh thần dân tộc và cưỡng lại trào lưu nghệ thuật hiện đại phương Tây đang tràn vào. Trên báo chí, đã xuất hiện những tranh biếm họa đả kích phong kiến và một vài "ông Tây" thực dân, nhưng vẫn chỉ trong vòng kiểm duyệt của thực dân "cho phép". Vài ba họa sĩ và sinh viên mỹ thuật muốn đem tài năng và nhiệt huyết của mình phụng sự dân tộc như tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ, phong trào nhà ánh sáng... là những phong trào công khai. Hiếm hoi có người tham gia hoạt động chính trị, nhưng lại đi nhầm đường. Có một số họa sĩ hướng vào cách mạng, nhưng chưa thể hiện được tinh thần đó bằng tác phẩm và hành động tích cực. Đa số còn náu mình trong "tháp ngà", tìm lối thoát ra khỏi "nỗi buồn thời đại" trong căn buồng nghệ thuật chật hẹp của mình, và vẽ để kiếm sống. Chưa có một tổ chức tập hợp anh chị em lại với nhau. Vài "hợp tác xã" mỹ thuật do người Pháp lập ra chỉ là để trưng bày, để bán tác phẩm. Một ít tác giả cố lập ra một nhóm "nghê sĩ mới" nhưng không hướng về cách mạng.

    Năm 1943, không quân Mỹ ném bom quân đội Nhật đóng ở Hà Nội. Trường Mỹ thuật Đông Dương (vẫn do người Pháp điều khiển) bị trúng bom, một giáo sư người Pháp chết, một vài sinh viên bị thương, trường phải sơ tán.

    Ông giám đốc trường là E.Jonchère - nhà điêu khắc - muốn vào Đà Lạt, nhưng các ông J.Inguimberty, Nam Sơn và Tô Ngọc Vân không muốn vào. Đành phải chọn phương án thoả hiệp là khoa kiến trúc và một phần khoa điêu khắc đi Đà Lạt. Còn khoa hội họa lên Sơn Tây, ở xã Đường Lâm, tiện cho nhiều người, một địa điểm có phong cảnh đẹp, không xa Hà Nội mấy và rất thuận lợi cho việc học mỹ thuật. Điều bất ngờ, đây chính là quê tôi. Trường đóng tại Văn Miếu tỉnh Sơn Tây trên đất Đường Lâm.

    Lúc này, việc học tập vẫn tiếp tục miệt mài, tình cảm thầy trò, bạn bè thân mật, quần tụ. Thầy Nam Sơn ngày ấy mới ngoài 50 tuổi đã được gọi là cụ, với chiếc xe đạp tuần nào cũng chiều thứ bảy bon về Hà Nội, sáng thứ hai lại dong lên Sơn Tây sớm. Lòng yêu nghề của các thầy đã động viên anh chị em vẽ rất nhiều, không ai băn khoăn: vẽ cho ai, vẽ để làm gì. Đã học là học hết mình. Ở đây họa sĩ Tô Ngọc Vân đã sáng tác nhiều tranh thật đẹp: Thiếu nữ bên hoa sen; Cảnh trung du; Bên bờ ao; Mấy cô gái làng Yên Mỹ,... Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Thuận, Sỹ Ngọc, Huỳnh Văn Gấm,... cũng đã hé lộ tài năng.

    Nhưng bên cạnh việc học tập, lúc này những biến động của thế giới và của xã hội ùa vào nhà trường. Ở Hà Nội khi đó, những hoạt động yêu nước công khai của học sinh, sinh viên nổi lên rầm rộ. Anh Dương Đức Hiền là "lãnh tụ sinh viên" có xu hướng Việt Minh gây ảnh hưởng rất mạnh.

    Chúng tôi đã được đọc một số truyền đơn của Việt Minh. Có lần anh Nguyễn Văn Thiện cho tôi xem tờ truyền đơn dưới ký tên Nguyễn Ái Quốc mà trước đó tôi đã chuyển cho anh Mai Văn Nam, nay trở lại tôi. Anh em chúng tôi nhiều người náo nức tham gia hoạt động, nhưng chưa biết phải làm gì. Tôi về Hà Nội gặp anh Dương Đức Hiền trao đổi, sau đó gặp anh Lưu Thọ, anh Đào Đức Thông là hai sinh viên canh nông và chủ động đặt vấn đề sinh viên mỹ thuật tham gia phong trào sinh viên cứu quốc. Tôi được nghe bài học sơ đẳng về tổ chức (lập tổ ba người) và các anh gợi ý tôi về Sơn Tây tổ chức phong trào sinh viên mỹ thuật, bắt mối với Việt Minh ở đó. Chúng tôi bắt đầu chuyển sang hoạt động chính trị. Nhiều anh em mỹ thuật như Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn, Mai Văn Hiến, Lê Phả, Kim Đồng, Phan Thông, Nguyễn Tư Nghiêm, Tôn Đức Lượng (tức Nguyễn Hữu Kinh), Nguyễn Văn Thiện, Bùi Xuân Phái... rất hăng hái. Đó là thời kỳ mà sau này Xuân Diệu gọi là "thời vứt bút".

    Ngày 9/3/1945, Nhật làm đảo chính lật đổ Pháp. Thầy "Tây" phải trốn hoặc bị Nhật bắt. Lúc này cụ Nam Sơn làm quyền hiệu trưởng và ông Tô Ngọc Vân là thầy giáo chính. Các lớp vẫn học nhưng rất khó khăn vì không có kinh phí. Một số anh chị em hết tiền phải trở về Nam Bộ, Trung Bộ, về Hà Nội hoặc về quê. Anh Huỳnh Văn Gấm về hoạt động ở Nam bộ và trở thành cán bộ Tỉnh ủy. Anh Diệp Minh Châu cũng về Nam, sau tham gia kháng chiến ở Nam Bộ. Anh Huỳnh Văn Thuận về tham gia phong trào sinh viên cứu quốc ở Tổng Hội sinh viên, anh Trần Đình Thọ về tham gia Văn hóa Cứu quốc ở Hà Nội.

    Ở Sơn Tây chúng tôi cố gắng duy trì phong trào ở Trường Mỹ thuật. Tình hình xã hội ngày càng căng, những biến cố dồn dập. Anh em bàn với tôi, dựa vào mối quan hệ quen biết tỉnh trưởng, xin cho trường địa điểm là một số cư xá sĩ quan Pháp hiện bỏ trong ở vùng Mai Trai, trên con đường từ Ái Mỗ ra thị xã Sơn Tây, gần bến xe ô tô thị xã ngày nay. Được chấp thuận, tôi cầm cả chùm chìa khóa nặng khoảng 5 kg về. Thế là tha hồ ở, có anh một mình ở cả một vi-la, có điều chỉ còn là vỏ nhà rỗng tuếch, khi ngủ phải nằm trên sàn đá hoa. Còn ăn uống, tôi xin được tỉnh trưởng cấp lương thực là ngô, nhưng là ngô mọc mầm dài đến mấy phân, tuy vậy đói thì ăn vẫn tốt. Anh Mai Văn Nam lo hậu cần cho anh em, cả tháng chỉ có ngô bung trộn chút muối nhưng rất vui.

    Ngày đó, Tổng Hội sinh viên ở Hà Nội có nhiều phong trào: cứu đói, truyền bá quốc ngữ, học võ Việt Nam do võ sư Lộc dạy, là những hình thức tập hợp quần chúng. Khi bắt đầu học võ, mọi người cùng hát bài "Tiếng gọi sinh viên" của Lưu Hữu Phước (sau này đổi tên là "Tiếng gọi thanh niên") rất có khí thế. Chúng tôi bàn cứ áp dụng nguyên như thế để vận động sinh viên và thanh niên ở Sơn Tây. Vì vậy nên thanh niên ở quanh thị xã Sơn Tây đã tham gia cùng sinh viên mỹ thuật rất đông. Chúng tôi thành lập nhóm tuyên truyền công khai gồm các anh Mai Văn Hiến, Lê Phả, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Phan Thông, Nguyễn Văn Thiện, Tạ Thúc Bình, Kim Đồng, Trần Quốc Ân và nhiều anh chị em khác đến các làng đánh trống, diễn thuyết cổ động lòng yêu nước, tổ chức làng tự trị. Chị Nguyễn Thị Hoán, anh Tôn Đức Lượng đã bắt sang hoạt động Việt Minh ở địa phương là chính. Trong đội ngũ sinh viên ở Tổng Hội tại Hà Nội lúc đó rất phức tạp, có nhiều màu sắc chính trị khác nhau. Sinh viên mỹ thuật Sơn Tây không bị rơi vào tình trạng đó. Các hình thức hoạt động công khai khác được vận dụng như mở "Triển lãm tranh cổ động" đề cao tinh thần yêu nước. Về mặt lịch sử, đây là triển lãm đầu tiên của giới mỹ thuật về tranh cổ động chính trị, có cả tranh của cụ Nam Sơn và Tô Ngọc Vân. Có điều là tranh không được đả kích Nhật Bản.

    Triển lãm này đã gây tiếng vang trong quần chúng rộng rãi ở Sơn Tây. Anh chị em đã bầu Ban đại diện sinh viên mỹ thuật công khai do Nguyễn Tư Nghiêm làm trưởng ban (anh Nguyễn Tư Nghiêm đã từng tham gia nhóm thanh niên Phản Đế của Đào Duy Kỳ). Tôi đã về Hà Nội nói với võ sư Lộc cử lên Sơn Tây một huấn luyện viên là anh Phạm Đôn. Thế là phong trào tập võ đã thu hút được rất đông người, không chỉ sinh viên mỹ thuật mà còn nhiều thanh niên xung quanh thị xã. Khi bắt đầu tập, đứng thành đội ngũ, hát bài "tiếng gọi sinh viên" lời hát hừng hực khí thế "làm xứng danh nòi giống con cháu Lạc Hồng"... do Vinh Noãn cầm trịch, đó cũng là lần đầu tiên có sinh hoạt tập thể đông đảo .

    Hoạt động chuyên môn cũng không bị xao nhãng. Cuộc "Triển lãm tranh hội họa" bày ở phòng thông tin thị xã (phố Lê Lợi bây giờ) đã tập hợp hầu hết anh chị em tham gia. Đề tài ngày đó vẫn là: chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, thiếu nữ... chưa có những bố cục tranh xã hội. Hoạt động này vừa để giới thiệu nghệ thuật vừa để đoàn kết anh chị em, đồng thời là hoạt động công khai che giấu các hoạt động chính trị.

    Trong khi các hoạt động đó diễn ra rầm rộ thì anh em chúng tôi ráo riết tiến hành các hoạt động bí mật. Tôi cùng với anh Nguyễn Ngọc Hoàn, cán bộ Việt Minh ở Sơn Tây, đã nhiều lần bò vào trại lính Nhật ở Tông (Chùa Thông, Sơn Lộc) lấy trộm súng đạn để chuyển ra cho tổ chức. Khi Nhật làm đảo chính, quân Pháp bỏ chạy vứt lại vũ khí xuống sông Tích rất nhiều, dân vớt lên đem bán. Tôi về Hà Nội nói với anh Đào Đức Thông và anh Lưu Thọ đặt vấn đề với Tổng Hội sinh viên trích quỹ mua lại số súng ấy. Anh Phạm Thành Vinh lúc đó là Tổng thư ký Tổng Hội sinh viên (anh Lê Văn Rạng là lãnh đạo) đồng ý ký giấy cho lĩnh một số tiền lớn (4.000 đồng Đông Dương). Thế là mua được một số súng đạn, kể cả trung liên (fusils mitrailleurs), các anh Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn làm công việc vận chuyển, khi gặp anh Hoàn, hẹn địa điểm, ngày giờ, dùng tấm ảnh cũ xé đôi, khớp đúng thì giao. Các anh đã ngụy trang mang về nhà cụ thân sinh ra tôi ở Mông Phụ, giấu vào buồng, tôi về lại chuyển lên trần nhà, rồi sau đó giao cho anh Nguyễn Dương Hồng ở Hà Nội. Thời gian này tôi có gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền và được biết thêm nhiều điều về cách mạng.

    Gần đến cách mạng tháng Tám, Nhật khủng bố điên cuồng, bắt bớ hàng loạt ở Sơn Tây, ở Hà Nội và ở các nơi khác. Những người lãnh đạo Tổng Hội sinh viên ở Hà Nội, người bị bắt, người phải trốn. Tôi cũng đã bị hiến binh Nhật nghi ngờ, chúng viết công văn cho bố tôi với mục đích "khuyến cáo", nhưng chúng đã không đạt được mục đích. Bố tôi về quê, đưa công văn cho tôi xem và cho tôi mượn đem đi cho các đồng chí khác xem. Cụ đã đồng tình với hoạt động của tôi, chỉ dặn đi dặn lại là phải hết sức thận trọng. Cụ còn biết cả việc tôi giấu súng đạn trên trần nhà, vì một hôm cụ về, lại đúng lúc một anh bạn tôi lẻn về lấy súng, vô tình dẫm ra ngoài kèo gỗ, chân tụt vào khoảng trần vôi rơm, chân lọt xuống buồng dưới nhà. Cụ trông thấy không nói gì và ra xe về Hà Nội. Sau này cụ có nói với tôi: “Làm ăn như thế mà Nhật nó biết thì mất đầu với chúng”.

    Các giảng viên Trường Mỹ thuật đã biết rõ hoạt động của chúng tôi, tuy vậy ông Tô Ngọc Vân vẫn bám sinh viên cho đến ngày cuối. Vì hiến binh Nhật đã nghi ngờ, lại đã có công văn cho bố tôi và tôi cũng đã được trao đổi với anh Hoàn, nên chúng tôi quyết định giải tán anh chị em khỏi cư xá Mai Trai để tránh khủng bố. Anh Mai Văn Nam là người đi cuối cùng, chúng tôi chia tay nhau lần lượt, người về Hà Nội, người về quê nhà tham gia hoạt động tại địa phương, chẳng bao lâu lại được tham dự vào cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8/ 1945 trong cả nước.

    Sơn Tây đã khởi nghĩa cướp chính quyền, rồi Hà Nội. Cách mạng tháng Tám thành công, anh em gặp lại nhau ở Hà Nội. Chúng tôi gặp anh Nguyễn Đỗ Cung, anh bàn việc vẽ tranh cổ động ủng hộ cách mạng tháng Tám. Chúng tôi lại lao vào các hoạt động mới trong không khí tưng bừng của những ngày nước nhà được độc lập. Bây giờ mỗi người lại một nhiệm vụ, công tác ở các cơ quan khác nhau, nhưng thường xuyên được gặp nhau, khi ở Hội Văn hóa cứu quốc, khi ở “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ văn hóa”, ở trong “Lễ tuyên ngôn độc lập”, “Triển lãm văn hóa 1945” chào mừng cách mạng tháng Tám năm 1945 và ở ngày 2/9/1945 trong Lễ tuyên ngôn độc lập, ở “Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1946”...

    Các anh Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung và chị Nguyễn Thị Kim được vào Bắc Bộ phủ sáng tác về Bác Hồ. Tôi vừa tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, vừa công tác ở Bộ Thanh niên do anh Dương Đức Hiền làm Bộ trưởng, vừa tiếp tục đi học ở Trường Mỹ thuật do anh Tô Ngọc Vân tổ chức mà anh được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Tôi cũng tham gia dạy vẽ ở Trường Trung học Phan Chu Trinh do Mặt trận Việt Minh lập ra. Bao nhiêu việc bề bộn, mới và khó nhưng thật là vui. Những nhà mỹ thuật lớp trước, lớp sau cùng ghé vai chung sức vào công tác cách mạng. Những họa sĩ như Nguyễn Sáng, Mai Văn Hiến... có phong cách rộng rãi phóng khoáng cũng tham gia vẽ tem, vẽ giấy bạc cùng với các anh Huỳnh Văn Thuận, Lê Phả, Bùi Trang Chước và cũng thành công mỹ mãn. Anh Nguyễn Đỗ Cung và anh Văn Giáo đi Nam tiến, nhiều anh đi bộ đội hoặc làm công tác thông tin, tuyên truyền...

    Trải qua những biến cố đầy khó khăn, phức tạp, Tàu Tưởng vào, giặc Pháp gây hấn,... một nhóm 6 sinh viên mỹ thuật ở nhà tôi lúc đó được chỉ định đến nhà anh Nguyễn Đình Thi ở Thái Hà ấp để bí mật vẽ và khắc những tranh cổ động cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp sắp nổ ra. Đó là các anh Nguyễn Tư Nghiêm, Mai Văn Hiến, Thân Trọng Sự, Trần Đình Thọ, Nguyễn Hữu Cát và tôi. Ở đây, chúng tôi được gặp đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Xuân Thủy và nhiều đồng chí lãnh đạo khác đến xem chúng tôi vẽ và giúp đỡ chúng tôi thực hiện thành công tác phẩm để kịp thời in ấn rồi dán rộng rãi lên các mảng tường trên mọi nẻo đường kháng chiến ngay sau ngày chúng ta nổ súng tại Pháo Đài Láng.

    Đội ngũ những người làm mỹ thuật được Bác Hồ và Trung ương Đảng chỉ đạo dìu dắt, đã chuẩn bị được hành trang để đi vào cuộc kháng chiến thần thánh chín năm của dân tộc một cách phấn khởi, tin tưởng, đã trải qua bao thử thách gian khổ, hy sinh, lớp này nằm xuống, lớp khác đứng lên cùng với dân tộc kinh qua hai cuộc kháng chiến dài 30 năm chống Pháp và chống Mỹ, giành được độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.

    Bây giờ ở giữa buổi thanh bình, bước vào cao trào đổi mới, cùng nhau nhớ lại những ngày trước và sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nay anh chị em cựu sinh viên mỹ thuật được tự do sáng tác để cùng đồng nghiệp và toàn dân xây dựng nước nhà, chúng ta có thể tự hào về mình, về đồng đội, trong công lao của toàn dân tộc có sự đóng góp nhỏ bé của chính chúng ta.

    Phan Kế An

Share:         LinkHay.com