E-mail        Print        Font-size  
  • MỘT KHO BÁU CỦA BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM - NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM THÀNH LẬP BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM (1966-2016)

    QUANG THỌ - Mẹ Suốt. 1965. Bút sắt. Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam






    Ngày 24 tháng 6 năm 1966, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chính thức được khai trương tại Hà Nội, khi khói lửa ở kho xăng Đức Giang chưa nguội hẳn sau đợt không kích của máy bay Mỹ vào ngày 20...

    Vậy là đã tròn 50 năm.

    Nhớ lại ngày ấy, không thể không nhớ về người sáng lập, người giám đốc đầu tiên của Bảo tàng: Ông Nguyễn Đỗ Cung.

    Nguyễn Đỗ Cung không chỉ là một họa sĩ, ông còn là một học giả (thông thạo chữ Hán và tiếng Pháp), một nhà nghiên cứu, một nhà lý luận và phê bình nghệ thuật. Nay, còn phải gọi thêm Nguyễn Đỗ Cung là một nhà sử học, một nhà bảo tàng học nữa.

    ... Sinh thời, ông Cung, cứ chiều chiều lại cưỡi chiếc xe đạp “Phượng hoàng” nữ, màu xanh rêu, để đi thăm các người bạn nghệ sĩ của ông. Hễ thấy có gì hay, ông thường bảo: “Để tôi giữ cho”. Có lần, ông nói với Nguyễn Tư Nghiêm: “Anh đừng xé tranh. Cái nào anh định xé thì đưa tôi”.

    Đúng là tư chất của một người làm “công tác” bảo tàng, “bẩm sinh” mà cũng có phần “bất đắc dĩ”, vì ở thời ấy, cũng không có ai làm công tác bảo tàng được như ông, thay được ông.

    Không biết cái chủ trương sưu tập khá rốt ráo “tranh ký họa” do ai khởi xướng. Nhưng chắc chắn nó không nằm ngoài vòng ủng hộ và đôn đốc thực hiện của Nguyễn Đỗ Cung. Ông là người lãnh đạo, và cũng là người thúc đẩy để biến mọi chủ trương như thế thành hiện thực.

    Nghe nói, hôm Kissinger (giải Nobel hòa bình 1973) đến xem Bảo tàng, cứ thấy các tranh “táp-bờ-lô” là ông ta lắc đầu, tỏ vẻ không hiểu. Ông ta chỉ hiểu và thích “tranh ký họa”, lồng trong khung kính sáng lấp lánh...

    Tranh ký họa, theo Nguyễn Văn Tỵ - là thể loại “cần phục vụ ngay”.

    Ồ, một lối định nghĩa khoa học và nhân văn “có vẻ gì rất riêng của Việt Nam”!

    ***

    Cái biệt tài vẽ tranh ký họa của các họa sĩ Việt Nam đã từng được các họa sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu đánh giá cao và nể phục. Trên thực tế, vẽ tranh ký họa đã trở thành một trong những hoạt động chủ yếu nhất, nổi bật nhất của nền mỹ thuật cách mạng Việt Nam trải dài qua hai cuộc kháng chiến cứu nước.

    Thời kỳ chống Pháp, về tranh ký họa, ở Việt Bắc có Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Tạ Thúc Bình; Khu 3 có Lê Quốc Lộc, Lương Xuân Nhị; Khu 4 có Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Quang Phòng; Khu 5 có Nguyễn Đỗ Cung, Văn Giáo, Thái Hà; Nam Bộ có Diệp Minh Châu, Huỳnh Văn Gấm, Nguyễn Cao Thương, Nguyễn Phi Hoanh, Nguyễn Hiêm...


    Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung (1912-1977)


    Năm 1966, có tranh ký họa chống Mỹ từ miền Nam gửi ra của Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Cổ Tấn Long Châu, Lê Hồng Hải, Nguyễn Văn Kính, Lê Văn Chương, bày ở 51 Trần Hưng Đạo, đã được Bác Hồ đến xem và nhận xét: “... chỉ có ở trong cuộc, mới có được những bức tranh như thế”.

    Từ miền Trung, có tranh ký họa của Trần Việt Sơn, Trần Hữu Chất (bút danh Hồng Chinh Hiền), Nguyễn Thế Vinh (bút danh Nguyễn Vĩnh Nguyên), Phạm Thanh Tâm (bút danh Huỳnh Biếc), Đặng Quý Quyền, Võ Hầu Lương...

    Quang Thọ vẽ đảo Cồn Cỏ, vẽ mẹ Suốt. Huỳnh Văn Thuận vẽ dọc đường mòn Hồ Chí Minh.

    Nguyễn Văn Bình, Tạ Thúc Bình, Sỹ Ngọc, Quang Phòng, Trần Lưu Hậu, Lưu Công Nhân, Nguyễn Thụ, Văn Đa, Vũ Giáng Hương, Đinh Trọng Khang, Huy Oánh, Phạm Thanh Liêm đi vẽ dọc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, có người vượt ngang qua cả dãy Trường Sơn.

    Thái Hà, Lê Lam, Phạm Đỗ Đồng, Trịnh Dũng... từ Bắc vào hoạt động ở miền Nam.

    Ở Quảng Ninh có Hoàng Công Luận, Lưu Yên, Bùi Quang Ngọc, Vũ Duy Nghĩa... Ở Lào, Đặng Đức Sinh, Huy Toàn cũng có tranh ký họa.

    Riêng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Trần Văn Cẩn đã vào tuyến lửa Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh; ra vùng mỏ Quảng Ninh, Cẩm Phả; ngược Lạng Sơn, Cao Bằng rồi lại trở vào Trường Sơn, theo quân đội giải phóng và tiếp quản thị xã Ban Mê Thuột, và ngay giữa tháng 5, từ miền Đông Nam Bộ ông đã có mặt tại Sài Gòn, chứng kiến những ngày chiến thắng 1975 lịch sử.

    Trần Văn Cẩn đã tích lũy được đủ bộ sưu tập quý về cái Đẹp, cái Thơ của non sông đất nước; cái Hùng, cái Bi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và niềm hân hoan vô tận của toàn dân về Tổ quốc hòa bình, thống nhất, vĩnh viễn sạch bóng quân thù.



    Tây Nguyên tháng 3/1975. Họa sĩ Trần Văn Cẩn (người bên trái) và họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ (người bên phải)
    cùng hai thanh niên xung kích sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.
    (Ảnh trong sưu tập của Quang Việt)


    Năm 1980, tại triển lãm cá nhân lần đầu tiên của Trần Văn Cẩn tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, toàn bộ tranh ký họa của ông đã được Bảo tàng mua để lưu giữ và trưng bày.

    ... Các tập tranh ký họa thời chống Mỹ cũng đã sớm được xuất bản. Bộ đầu tiên in tại Bắc Kinh, năm 1967, làm hậu thuẫn chính trị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.

    Nay, bộ sưu tập “Tranh ký họa” của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nếu chỉ tính về số lượng - thì chỉ riêng có Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh mới có thể sánh được...

    ***

    Ở nước ta hiện có khoảng 150 bảo tàng. Những bảo tàng đông khách nhất, được yêu chuộng nhất như Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng chứng tích chiến tranh (TP. Hồ Chí Minh) - đều có sức thu hút mãnh liệt nhờ vào tính “xác thực - khách quan” của chúng.

    Tranh ký họa cũng vậy. Tính xác thực-khách quan của thể loại này, không ai có thể phủ nhận. Bụi, mồ hôi, thuốc súng, thậm chí cả máu và nước mắt đã cùng với năm tháng nhuốm màu trên từng bức tranh - để làm nên những hiện vật vô giá.

    Vậy nhưng, lâu nay, cái kho báu tranh ký họa ấy của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn được khai thác, sử dụng một cách quá ư hạn chế, thiếu hệ thống, thiếu đồng bộ. Nó đã trở thành một mảng “tư liệu ký ức” còn đang bị che giấu. Và, chỉ có nhận thức và nỗ lực của những người làm công tác bảo tàng, của những nhà quản lý và quy hoạch văn hóa, những nhà đầu tư - họa chăng - mới có thể trả lời cho câu hỏi: “như thế nào và đến bao giờ?” - vì một sự "có mặt" sung mãn của tranh ký họa Việt Nam.

    Quang Việt



     




Share:         LinkHay.com