E-mail        Print        Font-size  
  • HỘI HỌA TÂY NGUYÊN NHỮNG NĂM ĐẦU GIẢI PHÓNG

     XU MAN - Phá ấp chiến lược . 1983. Sơn dầu. 90x120cm. (nguồn: TLTK 29)




    Sau bom đạn, khói lửa và sự tàn khốc của chiến tranh, năm 1975 Tây Nguyên cùng cả nước tràn ngập niềm vui chiến thắng xen lẫn cả sự ngỡ ngàng. Mặc dù đời sống vật chất có nhiều thiếu thốn, nhưng ở một mặt khác, trong những năm đầu giải phóng, đời sống tinh thần của người Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng hừng hực sự phấn khích của một dân tộc vừa làm nên chiến thắng vẻ vang. Trong hoàn cảnh lịch sử chung ấy, mỹ thuật Tây Nguyên và mỹ thuật sáng tác về Tây Nguyên tiếp tục phát triển. Các đoàn văn nghệ sĩ từ Trung ương đến địa phương thường xuyên có mặt trên vùng đất này để nghiên cứu thực tế và cho ra đời những tác phẩm mang giá trị tinh thần lớn lao và có tính thẩm mỹ cao.

    Trong ba năm đầu sau giải phóng, Tây Nguyên cũng như cả nước phải đối mặt với những khó khăn kinh tế chất chồng. Về an ninh, tuy không còn những trận đánh ác liệt nhưng vẫn còn đó những mất mát do bom mìn còn sót lại gây ra. Về mặt tư tưởng, một bộ phận người dân chưa hoàn toàn tin tưởng vào cuộc sống trong chế độ mới... Chính trong những hoàn cảnh trên, nhiệm vụ của văn hóa - nghệ thuật lúc này là đặt mục tiêu tuyên truyền, cổ động lên hàng đầu. Tuy nhiên, ở thời điểm này, lực lượng họa sĩ và nhà điêu khắc hoạt động trong các cơ quan chuyên trách văn hóa còn rất ít, những tác phẩm của họ chủ yếu là tranh cổ động, được sáng tác nhằm phục vụ những ngày lễ lớn trong năm. Mảng đề tài thứ hai của những tranh cổ động về Tây Nguyên thường thấy vào những năm đầu giải phóng là kêu gọi những người đang theo bọn phản động Fulro ở trong rừng quay về với buôn làng. Đây cũng là thời kỳ rất nhiều những nông trường quốc doanh được thành lập trên khắp vùng Tây Nguyên để trồng cây công nghiệp. Ngoài những nông trường chè được tiếp quản từ chế độ cũ, còn có thêm những nông trường mới mở để trồng cà phê và cao su - những cây có giá trị kinh tế quan trọng đối với Tây Nguyên. Vì vậy, các họa sĩ hoạt động ở vùng đất này còn có thêm nhiệm vụ vẽ tranh động viên tinh thần lao động và ca ngợi sự vinh quang trong lao động, khích lệ quần chúng nhân dân. Các bức tranh cổ động với những hình ảnh phổ biến thời kỳ này là những chiếc máy cày trên nền đất đỏ bazan, cùng những luống cà phê thẳng tắp, hay những cô công nhân nông trường bên những cành cà phê trĩu quả, hình ảnh người lao động đang xách những thùng đầy mủ cao su.

    Năm 1978, để đáp ứng nhu cầu về lực lượng cán bộ văn hóa nghệ thuật, ngày 14 tháng 10 năm 1978, trường Trung học Văn hóa - Nghệ thuật Tây Nguyên được thành lập để đào tạo thêm cán bộ nghiệp vụ văn hóa cho các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Trường được đặt trụ sở tại thị xã Pleiku, tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Cùng với việc thành lập trường, đội ngũ giáo viên văn hóa nghệ thuật từ Tây Bắc, Việt Bắc được tăng cường tạo nên một sinh khí mới cho vùng đất bazan huyền thoại. Cũng từ thời điểm này hoạt động mỹ thuật ở Tây Nguyên trở lên phong phú hơn, nhiều loại chất liệu được sử dụng trong sáng tác hơn nhưng chủ yếu vẫn là chất liệu bột màu và màu nước nên rất khó bảo quản và lưu giữ.

    Những năm đầu sống trong hòa bình, ký ức về chiến tranh vẫn chưa nguôi ngoai trong tâm trí nhiều người. Có lẽ những đau thương mất mát mà sự tàn khốc của chiến tranh đem lại còn quá nặng trong tâm khảm những người đã phải chứng kiến nó. Họa sĩ Xu Man cũng vậy, sự đau thương đó vẫn còn ám ảnh mãi trong tâm hồn người nghệ sĩ Ba Na. Với những gì đã từng trải qua, họa sĩ Xu Man sáng tác bức tranh sơn dầu Phá ấp chiến lược bằng một phong cách hoàn toàn khác lạ với những gì người ta thường thấy ở ông. Trước hết về mặt bố cục, tuy vẫn là sự đông đúc của các nhân vật như ta thường thấy trong tranh Xu Man, nhưng trong tác phẩm này, thay cho sự vui nhộn là sự chật chội, gam màu tươi sáng hồn hậu ông hay dùng đã chuyển sang những mảng màu ảm đạm, u tối và bức bối. Bức tranh tố cáo sự đàn áp của kẻ thù và ca ngợi tinh thần yêu tự do của người dân Tây Nguyên.

    Bên cạnh sự đau thương, ký ức về chiến tranh đối với một số họa sĩ lại là những ngày tháng hào hùng và cả những chi tiết lãng mạn trong chiến đấu ở Tây Nguyên vẫn được các họa sĩ quân đội đề cập đến trong những tác phẩm của mình. Trong tác phẩm khắc gỗ Bộ đội qua làng, họa sĩ Quách Phong vẽ những con người, những mái nhà lẩn khuất dưới những tán cây. Cây rừng trong tác phẩm của ông luôn bao dung che chở cho những đứa con thân yêu của đất mẹ cao nguyên. Gốc cây to, chắc khỏe được đặt ở vị trí trung tâm của tác phẩm tạo nên cảm giác bình yên, đồng thời là điểm nhấn tượng trưng cho sự vững chãi của tình đoàn kết quân dân. Phía tiền cảnh là những ngọn cờ lau màu sáng có tác dụng cân bằng thị giác giữa phần chính và phần phụ của tác phẩm, và đằng xa kia là thấp thoáng tán lá của cây song (một loại cây họ mây thường mọc ở dãy Trường Sơn). Rồi rừng cũng hiện lên trong tác phẩm, phía hậu cảnh, đằng sau những đoàn quân thấp thoáng những cánh rừng bạt ngàn. Trong tác phẩm này, làng thực chất chỉ là những ngôi nhà nằm trong cánh rừng đại ngàn của Trường Sơn. Có lẽ yếu tố rừng đã ăn sâu vào tâm khảm người nghệ sĩ này, bởi phần lớn cuộc đời trai trẻ Quách Phong đã gắn bó với những cánh rừng nên chúng hiện lên tác phẩm của ông một cách tự nhiên, hiền hòa và nhân hậu như người mẹ. Tác phẩm Bộ đội qua làng đánh dấu sự quan tâm của giới văn nghệ sĩ đối với đề tài Tây Nguyên, dù hoàn cảnh sống còn khó khăn, họ chưa có điều kiện quay lại lâu dài với nơi đây. Trong các tác phẩm, ký ức của các nghệ sĩ về những vùng đất Tây Nguyên mà họ đã từng đi qua vẫn còn tươi nguyên và nó dường như đã kịp hóa thành một phần tâm hồn của họ như ý tứ trong một bài thơ của nhà thơ Chế Lan Viên: “Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.


    XU MAN, HUỲNH VĂN THUẬN - Rê thóc. 1981. Sơn khắc. 45x60cm


    Có thể nói, khoảng thời gian mười năm đầu thống nhất đất nước là thập niên sôi động và quyết liệt. Thời điểm này, Việt Nam vẫn bị giằng xé giữa nhiều thử thách. Trong cái nghèo khó chung về của cải vật chất, sự thiếu thốn về lương thực, thực phẩm thì nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân vẫn luôn hiện hữu. Đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên lúc đó, bên cạnh bộ phận dân cư tại chỗ, những người dân từ mọi miền đất nước được đưa lên đây xây dựng vùng đất mới, giữa vô vàn nhu cầu đáp ứng đời sống tinh lại càng trở nên vô cùng bức thiết. Trước thực tế đó, nhiều hoạt động văn hóa - nghệ thuật đã được triển khai. Trong đội hình chung ấy, các cán bộ mỹ thuật được biên chế trong các đội thông tin lưu động của ngành văn hóa - thông tin từ tỉnh đến huyện, cùng những họa sĩ hoạt động tự do coi Tây Nguyên là quê hương thứ hai cũng âm thầm góp sức cho mỹ thuật Tây Nguyên. Không sôi nổi ồn ào, nhưng các họa sĩ sống trên vùng đất Tây Nguyên vẫn duy trì những mạch nguồn của sự sáng tạo, trong đó có sự đóng góp của những người đã chọn con đường dẫn hướng và đào tạo những thế hệ kế cận cho tương lai mỹ thuật Tây Nguyên, họ là lực lượng giáo viên của các trường văn hóa - nghệ thuật địa phương như họa sĩ Xu Man, họa sĩ Nông Công Thắng, họa sĩ Mlô Hiu Duôn Du...

    Dưới thời bao cấp, thời kỳ của những bức thư viết tay và mua hàng bằng tem phiếu ở những mậu dịch quốc doanh, trên vùng đất Tây Nguyên mọi thứ dường như đều đến chậm hơn so với đồng bằng. Ngay cả những môn nghệ thuật có khả năng lan tỏa nhanh nhất như nghệ thuật điện ảnh thì sau khi đã được khởi chiếu ở những thành phố lớn cũng phải mất đến hàng năm sau người dân Tây Nguyên mới được tiếp cận, điều đó cũng lý giải vì sao mỹ thuật Tây Nguyên vẫn tiếp tục bình lặng suốt một thời gian khá dài. Phải từ năm 1980, khi có một số ít họa sĩ từ Hà Nội vào công tác hoặc đi thực tế sáng tác thì mỹ thuật Tây Nguyên mới như được thổi vào những luồng gió mới. Điều may mắn hơn nữa cho mỹ thuật Tây Nguyên thời kỳ này là đã có một số thanh niên sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này đã thi đậu và được theo học mỹ thuật ở những thành phố giàu truyền thống nghệ thuật như Huế và Tp. Hồ Chí Minh. Ở chiều ngược lại, đây cũng là thời gian có nhiều họa sĩ đã qua đào tạo tại trường nghệ thuật Huế được cử lên Tây Nguyên công tác. Những nguồn nhân lực trên là những nhân tố quan trọng làm nên sự phong phú cho mỹ thuật sáng tác về Tây Nguyên. Vào thời điểm này, những chất liệu truyền thống của nghệ thuật tạo hình Việt Nam như sơn dầu, sơn mài, sơn khắc, khắc gỗ, lụa… được nhiều họa sĩ đưa vào thử nghiệm trong những sáng tác về đề tài con người và thiên nhiên Tây Nguyên.

    Với tình yêu đặc biệt dành cho mảnh đất này, vào những giai đoạn khó khăn đó, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đã đến với Tây Nguyên bằng cả tâm hồn và tài năng của mình để cùng với “cánh chim đầu đàn” của mỹ thuật Tây Nguyên là họa sĩ Xu Man xây dựng nên những tác phẩm sơn khắc và khắc gỗ có trình độ cao về kỹ thuật và giá trị cao về thẩm mỹ. Trong mỗi tác phẩm của Huỳnh Văn Thuận, cảnh sắc và con người Tây Nguyên hòa quyện chặt chẽ và đầy ý nhị như chính tâm hồn người họa sĩ lão thành này. Trong những tác phẩm về Tây Nguyên của Huỳnh Văn Thuận ngay vào thời điểm này, ta nhận thấy một điều khác biệt so với đa số các tác phẩm cùng thời, ông không tập trung miêu tả những khó khăn hay hào khí cách mạng của Tây Nguyên mà tranh của ông chỉ toát lên vẻ đẹp tinh thần và vẻ đẹp cơ thể của con người nơi đây với những tác phẩm xuất sắc bằng những chất liệu đậm chất đồ họa tạo hình*. Trong tác phẩm sơn khắc Rê thóc sáng tác năm 1981, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận thể hiện một bầu không khí hối hả trong sự mãn nguyện của những con người Tây Nguyên chất phác đang chăm chút cho thành quả mùa màng bao ngày mong đợi. Bố cục tổng thể của tác phẩm được phân bố theo dạng hình sin, tạo nhịp điệu nhẹ nhàng uyển chuyển cho toàn bộ tác phẩm. Với bố cục những đối tượng tạo hình hợp lý, tác giả tạo ra sự chặt chẽ khi kết hợp giữa hình thể và không gian: Đống lửa nhỏ ở giữa sân, xa xa là những con người đang hối hả gùi lúa về làng, hướng người xem nghĩ tới khoảng thời gian đang diễn ra những hoạt động trong tác phẩm là một buổi chiều sau giờ làm việc trên rẫy, nhưng đồng bào còn tiếp tục hăng say lao động, với hi vọng thu được thành quả tốt nhất từ mùa màng của mình. Nhân vật ở vị trí trung tâm là một cụ già đang cúi xuống hốt lúa trong một chiếc bồ đầy, điều này cho thấy khung cảnh trong tranh là một vụ mùa bội thu. Ở góc phải bức tranh, một em bé ngoan ngoãn đưa bầu nước cho người phụ nữ đang lợi dụng sức gió, bắt gió thổi đi những hạt thóc lép trước khi cất vào kho. Do tính năng của chất liệu sơn khắc chỉ gợi chứ không tả, nên trong tác phẩm này, tác giả không đặc tả chi tiết sự mệt nhọc của những người lao động. Ở góc nhìn khác, cũng có thể do tinh thần yêu lao động toát ra từ các nhân vật mà người xem chỉ có cảm giác ấn tượng bởi sự nhẹ nhàng, vui tươi và yêu cuộc sống của những người Tây Nguyên được tác giả ngợi ca qua tác phẩm.

    Với những hồi ức còn tươi nguyên về những người đồng chí, đồng đội trên miền đất đỏ bazan, về những con người trung hậu và hết lòng với công cuộc giải phóng dân tộc, xua tan đêm tối tàn bạo của chiến tranh, họa sĩ Quách Phong cũng góp phần làm cho tổng thể bức tranh mỹ thuật về Tây Nguyên thêm phong phú bằng tác phẩm sơn mài Giã gạo trên sóc Bom Bo. Trong tác phẩm này, họa sĩ đã xây dựng bố cục theo những hình tròn nối tiếp nhau của những nhóm nhân vật để tạo ra sự nhịp nhàng, sinh động. Đường lượn của tuyến sáng được nhấn mạnh vào nhân vật trong nhóm chính tạo sự cân bằng thị giác cho bức tranh. Chúng ta có thể thấy vẻ đẹp của người Tây Nguyên qua những thân hình uyển chuyển mềm mại được tác giả nhấn mạnh bằng những đường thẳng dài của những chiếc chày gỗ trên tay các nhân vật. Trong tác phẩm này, tác giả không đặt một nhân vật làm trung tâm mà chủ tâm xây dựng nhóm nhân vật trung tâm, đề cao sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đồng thời, ở mỗi nhân vật trong tác phẩm, vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ Tây Nguyên vẫn được tác giả đặc tả rõ nét. Trang phục đậm màu của những phụ nữ trong tranh bó sát người làm bật lên vẻ đẹp cơ thể với những đường cong chắc gọn. Một người trong số đó có dáng vươn lên rất uyển chuyển, tác giả xây dựng nhân vật này như một điểm nhấn mạnh hơn trong nhóm chính nhằm tôn vinh những đường cong đầy nữ tính. Bên cạnh đó là vẻ đẹp khỏe khoắn của người phụ nữ đối diện trong động tác đang giã chày xuống, tạo ra dáng cong vòng của cơ thể như mới nảy lên sau sức mạnh của nhịp chày. Không gian sáng lung linh của chất liệu vàng, son và trứng trong tranh sơn mài tương quan với sắc độ đen sẫm của màu then tạo ra những mảng sáng tối giàu cảm xúc trong nhịp điệu. Tác phẩm như một minh họa sống động hòa cùng giai điệu bản nhạc Tiếng chày trên sóc Bom Bo của nhạc sĩ Xuân Hồng.

    Mỹ thuật sáng tác về đề tài Tây Nguyên thời kỳ đầu thống nhất đất nước tuy chưa thật sự nhiều về số lượng và cũng chưa phong phú về thể loại cũng như phong cách, nhưng rất giàu chất thơ và là tiền đề tốt cho những nghiên cứu và sáng tác của những nhà nghiên cứu và nghệ sĩ đi sau.

    *Huỳnh Văn Thuận là người miền Nam, khi đang theo học tại trường vẽ Gia Định ông đã vào chiến khu phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau đó, ông ra miền Bắc tiếp tục học mỹ thuật tại trường Mỹ thuật Việt Nam. Sau năm 1975, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận thường xuyên lên Tây Nguyên đi thực tế lấy tư liệu. Trong thời gian sống và đi thực tế ở Tây Nguyên, ông sáng tác rất nhiều tranh về con người, phong cảnh và đời sống nơi đây, đặc biệt là những tác phẩm sơn khắc sáng tác chung với họa sĩ Xu Man.



    Nguyễn Viết Tân

Share:         LinkHay.com