E-mail        Print        Font-size  
  • HỌA SĨ, TRANH VÀ CHUYỆN BÁN TRANH THỜI BAO CẤP

    Đi thực tế tại vùng mỏ Quảng Ninh 1968. Hàng đứng, từ trái sang: Huỳnh Văn Gấm (người thứ 2), Phan Kế An. Hàng ngồi phía trước, từ trái sang:
    Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng (đeo kính), Nguyễn Tư Nghiêm. Hàng ngồi phía sau, từ trái sang: Dương Bích Liên (người thứ nhất), Nguyễn Tiến Chung (đeo kính).






    Năm 1991, tôi bắt đầu tập tọng viết báo, và chỉ viết báo chuyên về mỹ thuật. Hai bài báo đầu tiên của tôi đều viết về Picasso, một bài không được đăng viết về Salvador Dalí...

    Đầu năm 1992, anh Nguyễn Hùng, Trưởng ban biên tập của Tạp chí Mỹ thuật đến nhà tôi chơi. Biết tôi còn đang sống ‘tự do” và khá rành về đời sống “thực” của giới mỹ thuật, anh Hùng bảo: “Cậu viết cho Tạp chí Mỹ thuật một phóng sự về gallery nhé”.

    Sau khoảng một tuần, tôi đem bài đến gặp anh Nguyễn Hùng ở tòa soạn 44B Hàm Long. Đọc xong, anh Hùng tỏ vẻ thích thú lắm. Rồi anh rủ tôi đi khao vài chén.

    Cũng vào năm 1992, tháng 6, Tạp chí Mỹ thuật nhận tôi vào làm phóng viên, biên tập viên của báo.

    ...Thật không ngờ, mãi hơn hai năm sau, bài báo viết về gallery của tôi mới được in, co chữ 7, bốn trang khổ 19x24cm, trong bộ mới của Tạp chí Mỹ thuật, số 4-1994. Khi báo ra, có rất nhiều người đọc, ai cũng khen.

    *

    Bài báo ấy, tôi lấy tiêu đề: “A! Gallery” (nhại chữ “Art Gallery”). Vậy mà đã ngót một phần tư thế kỷ.

    Năm nay, 2016, nhân ra số tết Bính Thân, chị Hoàng Anh – phụ trách Tạp chí Mỹ thuật – lại gợi ý tôi viết về “chuyện bán tranh thời bao cấp”. Thoạt đầu, tôi hơi ngại, vì đã viết rồi. Nhưng, quả thực, về đề tài này, tôi đã có thêm rất nhiều thông tin và trải nghiệm để viết tiếp, đặc biệt là những trải nghiệm trong lĩnh vực “tình cảm”. Tôi nhận lời với chị Hoàng Anh, chỉ đề nghị được mở rộng đề tài, thành “họa sĩ, tranh và chuyện bán tranh”.

    1. Họa sĩ

    Trong ký ức của tôi, đến nay, vẫn còn lưu lại mãi hình ảnh của bà Phạm Thị Tuyết, người bạn đời của họa sĩ Lưu Văn Sìn: nhỏ nhắn, trung hậu, hóm hỉnh, nồng nhiệt. Và, qua bà Tuyết, tôi mới thực sự hiểu được việc làm vợ của một họa sĩ (mà ông Lưu Văn Sìn chính là một điển hình) nó vất vả đến như thế nào. Ông Sìn, còn được gọi với cái tên chuyên môn là “Sìn cu-lơ”, vì ông dùng màu rất đẹp, mà cũng còn được gọi với cái tên rất đời là “Lâu-Văn-Sìn”, vì cả đời ông hầu như chỉ thạo mỗi việc vẽ, mà ngay cả vẽ ông cũng rất “chậm”. Có lần, ông vẽ tĩnh vật mấy quả hồng, hồng thối mà tranh vẫn chưa xong. Ông Lưu Văn Sìn dạy vẽ ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam mấy năm, đúng thời kỳ ông sáng tác bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Cảnh nông thôn thanh bình” (1957), và một bức khác rộng tới 10m2 để đưa sang trưng bày tại Triển lãm Nghệ thuật Phật giáo ở Ấn Độ. Một thời gian, ông làm “phụ động” ở Bảo tàng Mỹ thuật, nơi bạn ông là họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung phụ trách. Rồi... ông không làm gì nữa. Sau khi người con độc nhất của ông Sìn đi bộ đội và hy sinh, ông bắt đầu có dấu hiệu của bệnh “tâm thần”, bao nhiêu gánh nặng cuộc sống, một mình bà Sìn lo hết, thậm chí lo cả việc bảo vệ danh dự cho ông (bởi vì, vẫn còn những tin đồn dai dẳng rằng ông đã từng có liên hệ với Quốc dân đảng và hút thuốc phiện).


    Triển lãm tranh của các họa sĩ Quảng Ninh tại 16 Ngô Quyền, Hà Nội, 1980. Từ trái sang: Mai Văn Hiến,
    Hoàng Công Luận, Huỳnh Văn Thuận, Phạm Phi Châu, Nguyễn Thế Minh (người thứ 6), Nguyễn Tư Nghiêm,
    Bùi Đình Lan, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Sáng, Phạm Thị Hạnh (1 trong 2 người tiếp theo) và Lê Vân Hải.


    Sinh năm 1911, mất năm 1983, ngoài mấy bức sơn dầu đẹp ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, ông Lưu Văn Sìn chỉ để lại một ít tranh thuốc nước, chủ yếu vẽ phong cảnh và con người vùng cao Tây Bắc. Theo Lưu Công Nhân, Lưu Văn Sìn là một họa sĩ tài năng không thể để bị lãng quên. Bà Tuyết, vợ ông, đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    ...Cuối những năm 1950 đầu 1960, Phạm Khanh vẽ chân dung dạo trên đường phố Hà Nội, với mấy dòng ghi trên bảng vẽ: “Trời cho tí hoa tay/ Trông người vẽ giống ngay/ Chẳng quản chi tiền nhiều ít...”. Có thời, Bùi Xuân Phái cùng Trần Văn Lưu (nhà nhiếp ảnh) nghiên cứu sản xuất mực viết, mơ về một hãng mực “Lưu Xuân” sánh ngang với mực “Hồng Hà”.

    Hoàng Lập Ngôn, nghe đâu, cũng có một xưởng nhỏ in giấy kẻ dòng...

    Ngay từ 1966, Trần Đông Lương xin ra biên chế để chuyên tâm vào sáng tác. Trong số các họa sĩ tham gia kháng chiến, ở vào thời kỳ đó, Trần Đông Lương có thể là họa sĩ “liều” nhất, và vợ ông, cũng là một trong những người vợ tốt nhất của họa sĩ mà tôi từng biết.

    Cuộc đời Lưu Công Nhân trải qua nhiều chuyển dịch tương ứng với những giai đoạn vẽ: 1956 về Kiến An, 1959-1964 đi từ Bắc đến Vĩnh Linh, 1970 lập xưởng họa ở Thác Bà (Yên Bình, Yên Bái)... Với tôi, Lưu Công Nhân là một họa sĩ dũng cảm. Ngay từ kháng chiến chống Pháp, Tô Ngọc Vân đã khẳng định: “Lưu Công Nhân sẽ đi đến tận cùng con đường hội họa”.

    Là một người theo đạo Phật, Nguyễn Tiến Chung sống thanh bần lạc đạo ở một ngôi nhà ven Hồ Tây, dành cả cuộc đời phụng sự cái đẹp hội họa. Vì mê một bức tranh của Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Tiến Chung có lần đã bỏ hẳn một tháng lương để mua nó. Theo Nguyễn Tiến Chung, nếu nói về tính dân tộc trong hội họa, thì tranh Nguyễn Tư Nghiêm là nhất.

    Những năm 1977-1978, tôi thường đến thăm nhà họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm ở 65 Nguyễn Thái Học. Ông sống một mình, trên tầng ba, trong một căn phòng nhỏ có gác xép. Một hôm, tôi thấy ông vừa vẽ vừa tự tay rán đậu, bằng bếp dầu. Một cảnh nghèo mà ấm cúng.


    Nguyễn Đình Thi (bên trái) và Bùi Xuân Phái tại triển lãm cá nhân đầu tiên của Bùi Xuân Phái, Hà Nội 1984.

    Năm 1999 và 2003, tôi lại đến thăm họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm ở khu tập thể Trung Tự. Đây vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà nước lưu chuyển cấp cho ông. Gặp tôi, ông ôn lại nhiều kỷ niệm cũ, ông nói: “Tôi vẽ rất nhiều tranh, nhưng không có ai giúp cả. Nguyễn Sáng thì có người giúp, chẳng hạn như Hoàng Đình Tài... Trước tôi có uống rượu ở quán, sau chỉ uống ở nhà, với lạc rang, thuốc lá cuộn. Thổi cơm, tôi thường cho thêm ít đỗ xanh, đỗ đen, ăn mát, khỏe người... Thời bao cấp, tôi chỉ cần vóc và sơn, để vẽ, không muốn gì hơn. Bằng không, tôi vẽ bột màu, pha với gôm, nước cơm, hồ nếp. Không sao cả”.

    Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sinh năm Mậu Ngọ (1918), tính tuổi ta thì ông đã 99. Nay ông vẫn còn vẽ...

    2. Tranh

    Trong thời kỳ Mỹ ném bom miền Bắc, Hội Mỹ thuật đã phát cho mỗi hội viên một hộp kẽm để giữ tranh, nhất là tranh giấy. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam thì đã hai ba lần chuyển tranh đi sơ tán, đến nay hồ sơ vẫn còn lưu.

    Tranh ở thời bao cấp, có được quý không? Tất nhiên là quý, nhưng không được quý bằng một số tài sản khác.

    Quãng 1971-1972, cơ quan ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ở Paris có đặt họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ một bức tranh. Nguyễn Sáng đã vẽ bức “Thiếu nữ và hoa sen”, chất liệu lụa (mà sau ông chuyển thể sang tranh sơn dầu, hiện trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật). Thù lao cho bức tranh là một chiếc xe máy Peugeot, màu sữa. Vốn dĩ là dân “thể thao” nên Nguyễn Sáng đã sử dụng nó rất thành thạo.

    Theo lời kể của nhà điêu khắc Trần Thị Hồng: thời bao cấp, nhà chật thì tranh thậm chí phải xếp ở ngoài hiên, còn xe đạp thì phải ở trong nhà, như trường hợp của ông Trần Văn Cẩn. Nay, một số tranh của Trần Văn Cẩn, có bức trị giá bằng mấy ngàn chiếc xe đạp.

    Riêng bức sơn dầu “Bé Thúy Nga” (con gái của “Em Thúy”), Trần Văn Cẩn vẽ năm 1979, sau khi triển lãm, ông gửi vạ vật ở nhà tôi dễ đến hàng năm trời.



    Lưu Công Nhân đang vẽ tại vịnh Hạ Long, 1991


    Năm 1980, trong thời gian chuẩn bị cho cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Trần Văn Cẩn tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bố tôi, họa sĩ Quang Phòng, đã trả lại ông nhiều bức tranh bột màu mà trước đó rất lâu ông đã đem đến để chọn in phiên bản, trong đó có bức “Năm con trâu” mà ông Cẩn rất thích.

    ...Trần Đông Lương có lần tặng bạn tranh, bạn tặng lại mấy cân gạo. “Gạo thì tớ nhận. Nhưng đây không phải là giá tranh của tớ đâu nhé”, Trần Đông Lương nói. Lưu Công Nhân thì thường đổi tranh lấy đồ cổ, những món đồ cổ tầm tầm. Có lần họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm đổi tranh lấy ti-vi, nhưng ti-vi không dùng được.

    Bùi Xuân Phái hay tặng tranh, chủ yếu vì tình bạn. Cho đến tận những năm 1994-1995, bản thân tôi vẫn có thể đổi cho ông Lâm Cà phê một bìa sách cũ lấy một tranh sơn dầu của Bùi Xuân Phái.

    Thời bao cấp, tranh thậm chí không quý bằng khung tranh, bởi vì người họa sĩ có thể vẽ tranh chứ không thể tự đóng khung tranh (khi ấy, khung tranh là cả một vấn đề). Năm 1982, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ gửi bán một bức sơn dầu tại phòng tranh của Công ty Phát hành sách Hà Nội. Tranh bán đi rồi, ông mới hỏi người bán rằng “khung đâu?”. Đối với ông, cái khung mới là “vô giá”!

    Theo Nguyễn Hào Hải, ở thời bao cấp, Dương Bích Liên đã sống như một “ông hoàng” (tất nhiên, chỉ là “ông hoàng của thời bao cấp”, với chút rượu tây, cơm tây). Quả thực, ở vào thời kỳ đó, Dương Bích Liên là một họa sĩ hiếm hoi rất biết cách tối ưu hóa giá trị cho các bức tranh của ông, ít nhất về mặt tài chính, mà bây giờ người ta gọi là “marketing”.

    3. Chuyện bán tranh

    Vào những năm 1950-1960, ở nước ta, tranh không đắt bằng chữ. Nếu nhà văn Tô Hoài có thể mua được nhà bằng tiền nhuận bút cho mấy tập sách viết về Tây Bắc nổi tiếng của ông - thì không có một họa sĩ nào làm được điều đó bằng tranh.

    Tại triển lãm cá nhân lần đầu tiên của họa sĩ Trần Văn Cẩn (1980), Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã quyết định mua toàn bộ tranh thuốc nước và ký họa của ông, với tổng số tiền là 20.000 đồng, theo phương thức trả góp thành mấy đợt.

    Năm 1980 hoặc 1981, tại triển lãm cá nhân nhan đề “Rực lửa tình yêu”, họa sĩ Ngọc Linh đặt giá tranh có bức lên đến 10.000 đồng, một khoản tiền lớn ở vào thời điểm đó. Một người Bỉ tên là Petit, sau hình như làm đại sứ Vương quốc Bỉ ở Trung Quốc, rất thích tranh Ngọc Linh. Và, chuyện Ngọc Linh bán được tranh giá cao là chuyện hoàn toàn có thật.

    1984, tại triển lãm cá nhân đầu tiên của Bùi Xuân Phái, số tiền thu được từ bán tranh tương đương với giá trị một chiếc xe máy.

    Cũng khoảng 1985-1986, Lưu Công Nhân triển lãm cá nhân và đặt giá tranh có bức lên tới 4.000 đồng, khiến ông Jorland, tùy viên văn hóa Đại sứ quán Pháp, phải kêu trời.


    NGUYỄN SÁNG. Chân dung ông Nguyễn Viết Châu. 1965. Sơn dầu

    Trọng Kiệm triển lãm cá nhân sau Lưu Công Nhân, “tham khảo” giá tranh Lưu Công Nhân nên không bán được bức nào, trong khi Lưu Công Nhân đặt giá cao chỉ để “chơi”.

    Hôm triển lãm tranh Trọng Kiệm sắp bế mạc, tôi có đến xem và gặp ông. Ông ngồi một mình bên chai rượu trắng và bao thuốc lá Sông Cầu, để lại một hình ảnh buồn về một thời bao cấp gian khó thật khó quên trong tâm hồn tôi...

    Một hôm, ông Nguyễn Viết Châu, một họa sĩ nổi tiếng trong nghiên cứu nghệ thuật chữ, đến nhờ tôi hỏi mối bán giúp bức chân dung ông do họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ, với giá 1.000USD. Năm ấy, khoảng 1988-1989, việc bán một bức tranh giá 1.000USD không dễ dàng gì, cho dù đó có là tranh của Nguyễn Sáng. Rốt cuộc, ở Hà Nội tranh không bán được, ông Viết Châu đem tranh vào Sài Gòn, rồi lại đem ra, nhưng đáng tiếc là trong quá trình di chuyển, ông đã sơ ý làm thủng mất một chỗ trên tranh. Số phận bức tranh về sau ra sao, tôi cũng không hề được biết nữa.

    Những năm 1990 đầu tiên là những năm có nhiều sự kiện đặc biệt. Một nhà sưu tập người Đài Loan đã mua một loạt tranh của họa sĩ Phạm Viết Song với số tiền lên tới 40.000USD. Một nhà sưu tập khác người Canada mua một loạt tranh của họa sĩ Văn Giáo với số tiền 15.000USD.

    Năm 1991, sau nhiều cuộc tranh luận, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định mua bức tranh sơn mài vĩ đại “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí với giá tiền kỷ lục 100.000USD (tương đương với 600.000.000 đồng khi đó), để lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật của thành phố. Cùng năm, một nhà sưu tập người Hàn Quốc đã mua một bức “Khỏa thân nằm” của Trần Văn Cẩn với giá 1.200 USD, tại Gallery 61 Tràng Tiền.

    Hậu duệ của nhà buôn nghệ thuật nổi tiếng thế giới Durand Ruel, đã mua vào năm 1993, hai bức tranh của Nguyễn Sáng, trong sưu tập của ông Nguyễn Văn Lâm (tức Lâm Cà phê), với giá 6.000 USD một bức...

     


    Hai bức tranh của Nguyễn Sáng được nhà Durand Ruel mua của ông Nguyễn Văn Lâm (Lâm Cà phê) năm 1993:
    Cà phê đen 3 hào. Chân dung Bùi Xuân Phái và ông Lâm (người phía trên). 1964. Sơn dầu / Con gái ông Lâm. 1964. Phấn màu

    Ở Hà Nội, từ một số hãn hữu các phòng tranh thuộc diện “ngoại tuyến” (dành riêng cho người nước ngoài) tồn tại đã lâu như các phòng tranh của Xunhasaba, của Công ty Du lịch Hà Nội (Souvenirs du Vietnam) – vào những năm 1980-1990 – đã xuất hiện thêm hàng chục phòng tranh của nhà nước và tư nhân. Chữ “gallery” cũng từ đó mà trở nên thông dụng.

    Ở vào thời gian đó, ông Teucci, đại sứ Ý từ năm 1988 đến 1992 – là một người mua tranh sang trọng bậc nhất.

    Những năm 1980, ông Hoàng Việt Châu, còn gọi là Châu béo, mở một phòng tranh tại sân vườn nhà họa sĩ Phạm Văn Đôn, hàng xóm của tôi. Người mua chủ yếu là người Bắc Âu, nhất là người Thụy Điển công tác ở Nhà máy giấy Bãi Bằng đang xây dựng. Trời nóng, ông Châu cởi trần, chỉ mặc áo khi có khách đến. Một hôm, ông nhờ tôi tháo một bức tranh sơn dầu ra khỏi sát-xi. Việc xong, ông mời tôi uống bia. Tôi đùa hỏi: “Cụ bán tranh mà cũng có bia để uống cơ ạ?”. Ông Châu trả lời, bằng giọng Quảng Ngãi: “Một thằng bán trăn mà không uống nổi cốc bia thì bán trăn làm gì.”

    Ông Hoàng Việt Châu bán tranh rất chạy, có ngày ông bán tới hàng chục bức, như tranh sơn mài của Đỗ Xuân Doãn, Nguyễn Hiếu, tranh lụa của Trần Duy... Riêng tranh khắc gỗ của Phạm Văn Đôn ông chủ yếu dùng để khuyến mại.

    Bùi Xuân Phái thì phát huy sở trường, ông vẽ tranh sơn dầu mi-ni trên carton, đôi khi chỉ có hai màu chủ đạo đen và trắng. Ngoài tranh vẽ phố cổ, tranh vẽ biển của ông cũng rất đẹp, sóng bạc đầu dậy lên thanh thoát, không lạch bạch như sóng biển trong các bức Phái “láo” ngày nay. Ông Phái thường gói tranh cả khung, bằng giấy xi-măng, xâu thành từng mớ mà ông gọi vui là “thuốc bắc”.

    Vào một chiều áp Tết năm Đinh Mão (1987), bà Đôn Thư, chủ một gallery ở phố Hàng Khay, mời tất cả các họa sĩ “có đóng góp” cho thành công của bà trong năm - đến dự tiệc chiêu đãi tại Restaurant Maria phố Huế. Hôm ấy, Bùi Xuân Phái hơi say, ông cực kỳ phấn khích. Và đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bùi Xuân Phái...

    Kinh doanh nghệ thuật đã trở thành một mảng kinh tế đặc thù, thậm chí nó khởi động ngay từ thời kỳ báo hiệu nền kinh tế thị trường ở nước ta đầu những năm 1980. Phía sau cái vẻ náo nhiệt với không ít thành công của thị trường tranh ấy là bao nhiêu nỗ lực bền bỉ để tồn tại và phát triển. Với ngày hôm nay, thực càng khó hơn để tạo nên một chỗ đứng trong một thị trường tranh Việt Nam đã có nhiều đổi khác. Và sự thực là nó đang ở trên đà chuyên nghiệp hóa và quốc tế hóa.


    BÙI XUÂN PHÁI - Phố Hàng Bè. 1984. Sơn dầu. 60x81cm.
    Một trong những tác phẩm thời kỳ cuối cùng của Bùi Xuân Phái, trong sưu tập của ông Choi (Chang Joon), Quang Du, Hàn Quốc.
    Cuối những năm 1980, giá của bức tranh này khoảng 100 USD, đầu thập kỷ 1990 là hơn 5000 USD, và nay nó trị giá gấp khoảng 1000 lần so với giá ban đầu.

    Thị trường tranh Việt Nam đúng ra là một thị trường khá lạ lùng. Ban đầu nó không khác gì một ốc đảo cực kỳ sơ khai của những người tiểu thương biết nói tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Nga, chủ yếu bán tranh khổ nhỏ, giá rẻ, hoạt động hoàn toàn tách biệt với thị trường khu vực và thế giới: phương thức nửa quốc doanh nửa tư nhân, về thực chất là “hái lượm”. Lấy kinh nghiệm rút ra từ một thực tiễn còn mới mẻ làm bài học cẩm nang, các thương nhân nghệ thuật tự dấn thân vào một cuộc phiêu lưu dường như bất định, một cuộc chơi hậu hĩnh với người này mà lạnh lùng với kẻ khác. Không đếm xuể số gallery nghệ thuật xuất hiện rồi biến mất cực kỳ nhanh, thậm chí có cái “sống” không nổi qua vài ba tháng, mà đa phần có nguyên nhân từ ảo tưởng trước những cơ hội “giả” hơn là để lỡ mất những cơ hội “thật”.
     
    Kinh doanh nghệ thuật, như từ xưa - là nghề kén người. Nhìn lại quá trình hơn 30 năm qua thì hình như vấn đề là: “sự năng động” - một ngôn từ rất thịnh hành của thời “mở cửa” - nếu có định hướng tốt sẽ luôn luôn chiếm ưu thế so với mọi thói a dua vô căn cứ - để rồi từ đó lọc ra không nhiều các doanh nhân có thực tài - những người không chỉ đối chọi được với tính bấp bênh cố hữu của thương trường nghệ thuật, mà hơn thế, còn không ngừng mở rộng thị trường ấy trên bình diện khu vực và cả trên thế giới.

    ... Cuối những năm 1980, Trung Quốc vẫn là đất nước của sự giống nhau, đồng phục, cùng đi xe đạp. Nay, với tầng lớp trung gian phát triển, đã hình thành một sự đa dạng về phong cách sống và kế hoạch sống. Sự thật, thị trường nghệ thuật Trung Quốc tăng nhanh hơn và đột biến hơn cả nền kinh tế Trung Quốc, nó đã trở thành những vụ buôn bán cỡ hàng tỉ đô la. Và Nhà nước chỉ kiểm soát lỏng lẻo, vì Nhà nước cũng muốn cùng kiếm tiền. Nghệ sĩ và nhà sưu tập có những tự do nhất định, các nhà sưu tập “ương ngạnh” hơn, các nghệ sĩ càng ngày càng “bất kính” hơn, và cũng bởi vậy, thị trường nghệ thuật ở Trung Quốc cho phép nhìn rõ đến mức đáng ngạc nhiên xã hội Trung Quốc đang thay đổi như thế nào.

    Về vị trí văn hóa và tiềm năng kinh tế của thị trường nghệ thuật, nhận thức và tầm nhìn của chúng ta còn quá hạn chế, nếu so với người Trung Quốc hiện nay.

    Quang Việt

Share:         LinkHay.com