E-mail        Print        Font-size  
  • Thời cận đại, Tô Ngọc Vân quan niệm về nghệ thuật

    Chân dung họa sĩ Tô Ngọc Vân - 1938 ở Hà Nội (ảnh lấy trong sách Tô Ngọc Vân - Tô Ngọc Thành)


    Nếu tính từ cuộc bày tranh đầu tiên của họa sĩ Tô Ngọc Vân tại Sài Gòn (17/12/1930) đến ngày ông hy sinh trên đường đi chiến dịch Điện Biên Phủ (17/06/1954) thì cuộc đời sáng tác của ông trải ra trọn 24 năm.

    Hai mươi bốn năm, hai giai đoạn sáng tác 1930-1945 (trước Cách mạng tháng Tám) và 1945 - 1954 (kháng chiến chống Pháp) phân chia như vậy cũng chỉ là tương đối.

    Lịch sử xã hội đã ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của ông. Và nếu nghệ thuật phản ánh đúng những biến động trong quan hệ xã hội thì tác phẩm của Tô Ngọc Vân phần nào sẽ làm bằng chứng lịch sử cho những biến động đó.

    Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập vào mùa đông 1925. Khóa đầu tiên (1925-1930) có Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Phan Chánh, Công Văn Trung và Georges Khánh. Tô Ngọc Vân học khóa II (1926-1931)... những năm tháng học trong trường với các giáo sư Pháp, học kỹ thuật hội họa và lịch sử nghệ thuật xây dựng hình họa bằng những khối nổi và đưa vào tranh màu sắc thiên nhiên gần gũi. Ông đã nhen nhóm cho mình một tâm hồn đầy màu sắc để rồi cho ra đời những tác phẩm rung động lòng người qua những kỳ bày tranh sau này. Họa sĩ Trần Bình Lộc đã từng viết: “Trong lĩnh vực hội họa nghề nghiệp của Tô Ngọc Vân rất đáng ca ngợi bởi ông có một cái nhìn - Một phẩm chất hiếm có - mà không phải họa sĩ nào cũng có” 1.

    Ngay từ buổi đầu ông không chấp nhận khuôn mẫu lý tưởng thẩm mỹ Hy - La với những mảng màu lạnh xám, tôn trọng cái đăng đối, ổn trong đường viền hình họa cổ điển. Ông đã phát hiện ra và tự khẳng định mình phải tìm thấy cái đẹp, hòa hợp giữa con người với thiên nhiên rộng rãi.


    TÔ NGỌC VÂN - Buổi trưa. 1943. Sơn dầu. 98x74cm

    Ra trường năm 1931, Tô Ngọc Vân cộng tác với báo Phong Hóa, Ngày Nay, Thanh Nghị. Với bút danh Tô Tử, Ái Mỹ, ông đã viết và vẽ trên các báo đó đến năm 1945. Thời gian này nếu Nguyễn Đỗ Cung là một họa sĩ tài năng, một nhà nghiên cứu cổ học uyên bác thì Tô Ngọc Vân cũng làm trọn sứ mệnh là một họa sĩ mở đường cho trường phái hội họa mới, một nhà phê bình nghệ thuật sắc bén về những quan niệm nghệ thuật mới của mình.

    Xuất phát từ quan niệm “Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời” 2, giai đoạn sáng tác 1930-1945 đã đưa ra Tô Ngọc Vân tiến dần đến những khuynh hướng nghệ thuật phương Tây rất phù hợp với xã hội Việt Nam những năm 30. Đó là những năm cuối cùng của cuộc vận động cách mạng tư sản. Thực dân Pháp một mặt đàn áp các cuộc khởi nghĩa; mặt khác lại dụ dỗ quần chúng vào các cuộc ăn chơi trụy lạc vui vẻ trẻ trung. Trên văn đàn công khai nhóm Tự lực văn đoàn ra đời với tuyên ngôn “... lúc nào cũng mới trẻ, yêu đời, không có tính cách trưởng giả quý pháo, tôn trọng tự do cá nhân, làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa” (báo Phong Hóa - 1934).

    Vào những năm tháng này, Tô Ngọc Vân đã hòa hợp với nhóm Tự lực văn đoàn, ông tìm thấy ở đây cái hào hứng yêu đời đồng điệu với từng lớp trí thức mới. Một loạt các minh họa phụ bản của ông trên những trang báo này cùng những tranh phong cảnh, thiếu nữ Hà thành hoa lệ đã nói lên quan niệm nghệ thuật của ông trong cảm nhận tạo hình, chất liệu, màu sắc, ánh sáng thiên nhiên, gần gũi.

    Cần phải nói thêm thời gian này bên cạnh Tô Ngọc Vân hướng hội họa vào duy mỹ còn có một Nguyễn Đỗ Cung cũng ra vào đắm đuối với nhóm Xuân Thu Nhã Tập đóng góp cho nhóm này một tự sự đẹp qua bài “Sống và Vẽ” đăng trong Tạp chí Xuân Thu Nhã Tập (1942). Đây là một tạp chí tập hợp nhóm nghệ sĩ gồm gồm cả Văn - Thơ Nhạc - Họa do Nguyễn Lương Ngọc làm chủ soái với tôn chỉ Sáng tạo - Đạo lý. Ra đời năm 1942, nhóm có khuynh hướng riêng, tuyên ngôn riêng, một số bài thơ viết theo kiểu đóng kín (hermétique) thơ tượng trưng, thơ siêu thực như “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” hay “Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm” của Nguyễn Xuân Sanh, Tự sự Sống và Vẽ của Nguyễn Đỗ Cung cũng là một quan niệm siêu thực, thoát ly đời thực đi vào đạo lý sáng tạo từ ngôn từ đến ý tưởng. Tô Ngọc Vân cũng có một tuyên ngôn “Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời” cho quan niệm sáng tác của mình.

    Tuyên ngôn trên của Tô Ngọc Vân chấp nhận nghệ thuật là một phương tiện diễn đạt cảm giác mạnh mẽ chứ không phải là một sự nghiên cứu để hoàn mỹ những hình hức lý tưởng của cái đẹp. Theo ông hội họa phải tìm thấy tầm thước con người trong thiên nhiên, con người có cảm xúc. Ông viết “Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể trở thành họa sĩ tài hoa” 3.


    TÔ NGỌC VÂN - Thiếu nữ khỏa thân nằm với hoa sen. Sơn dầu. Sưu tập tư nhân

    Toàn bộ tác phẩm của Tô Ngọc Vân trong giai đoạn 1930-1945 đã minh chứng quan điểm sáng tác của ông là diễn tả tình cảm riêng của mình với cảm xúc mạnh mẽ dào dạt, màu sắc vui tươi chói lọi đam mê. Mặc dù được học theo chương trình cổ điển, Ấn tượng Pháp với những giáo sư tận tụy Victor Tardieu, Inguimberty, Tô Ngọc Vân đã sớm nhìn thấy cái phù phiếm của hội họa Ấn tượng cố chạy theo ánh sáng mặt trời tình cảm con người bị bỏ quên. Họa sĩ Trần Văn Cẩn đã nhận ra điều đó. Ông nhận xét “Tô Ngọc Vân tốt nghiệp năm 1931. Người ta dễ dàng nhận ra âm hưởng của Gauguin trong bức "Lễ vật" (Offrande)” tác phẩm thi ra trường của anh cũng như thấy phảng phất ảnh hưởng của bích họa Acgianta trên bức lụa "Quà cưới" (Cadeau de Noce) năm 1932 hay của hội họa Nhật Bản ở bức lụa "Hai em bé mục đồng" 4.

    Cùng nhận xét về màu sắc tranh Tô Ngọc Vân, báo Thanh Nghị số 87 ngày 12-10-1944 có đăng mấy ý kiến nhận xét phòng tranh 1944: “Bên cạnh những màu dịu vàng của mấy họa sĩ là những bức sơn dầu sáng lạnh của Tô Ngọc Vân - nhà họa sĩ vĩnh viễn yêu đời. Màu sắc ở đây ngoa ngoắt như má hồng răng đen và mắt bồ câu của mấy cô gái quê sắc sảo. Dưới mắt ông ngỡ rằng một cảnh buồn cũng có những nét tươi vui. Chẳng thế mà cảnh trời u ám của ông vẫn còn quyến rũ ta như những ngày trong sáng”.

    Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung khẳng định: “Tô Ngọc Vân lại cho ta ngắm một nghệ thuật lưu loát và chắc chắn của một thông minh già dặn” 5.

    Tô Ngọc Vân dù có thông minh bóp trán nhìn ánh sáng mặt trời linh hồn của trường phái Ấn tượng thì màu sắc dưới biến ảo thiên nhiên thần bí vẫn quyến rũ ông hơn cùng nội tâm chất chứa. Ông luôn coi màu sắc là linh hồn của tác phẩm dù là chất liệu gì và nghệ sĩ là người điều khiển mạnh mẽ để tìm thấy cái đẹp vẫn ẩn náu bên trong, để nói lên được cái tinh vi tế nhị của sự sống và sức vận động, cái buông thả hồn nhiên hay ưu tư đam mê vô vọng.

    Họa sĩ Picasso đã từng nói “Tôi không tìm nhưng tôi thấy”. Modigliani (họa sĩ Italia) quan niệm “khi tôi nhìn không phải là cái thực, cũng không phải là cái không thực. Mà là vô thức. Đó còn là bí ẩn của bản năng con người.” 6

    Ta có thể xếp quan niệm về nghệ thuật của Tô Ngọc Vân cùng với các họa sĩ gia này không khi họ cùng đồng lòng "không tìm nhưng thấy" trong tạo hình hiện đại.

    Nguyễn Hải Yến

    Chú thích:

    1. Trần Bình Lộc, Coup doeil en salon dart de, 1936

    Le Monôme – Janvier. No 7, 1937

    2. Tô Ngọc Vân, Cái đẹp trong tranh, báo Thanh Nghị số 19 năm 1942

    3. Báo Ngày nay số 3 ngày 20-02-1935

    4. Trần Văn Cẩn, Sách Tô Ngọc Vân, NXB Văn hóa 1983

    5. Nguyễn Hải Yến, Sách Tô Ngọc Vân, NXB Văn hóa 1983

    6. Modigliani, Danh họa Thế giới, NXB Kim Đồng 2001

Share:         LinkHay.com