E-mail        Print        Font-size  
  • Danh sơn, thắng tích, danh tự Bổ Đà

       Chùa Quan Âm trên núi Bổ Đà



    Danh sơn-Thắng tích Bổ Đà: Chùa Bổ Đà (Chùa Bổ) toạ lạc trên sườn núi Phượng Hoàng bờ Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận thôn Tiên Lát xã Tiên Sơn huyện Việt Yên - Bắc Giang. Một quần thể với nhiều di tích cổ kính, trải dài chừng 2km, là thắng tích nổi tiếng Bổ Đà. Địa phận Tiên Lát có ba núi lớn, cao nhất là Phượng Hoàng Sơn có nhiều đá mọc thông reo. Ngọn thứ hai là Mã Yên Sơn, ngọn thứ ba là Kim Quy Sơn. Còn có ngọn Trúc Lát, ngọn Con Voi thấp hơn. Các ngọn núi tiếp nối nhau, có độ cao khoảng 50 – 80m (so mực nước biển), dải núi nhấp nhô, cây xanh tươi tốt, rừng thông bạt ngàn, cảnh quan đẹp. Từ khi có chùa Bổ Đà, cả ba ngọn núi lớn gọi chung với tên chùa là Bồ Đà sơn. Theo lối bậc gạch lên Bổ Đà Sơn, có những ngọn: chùa Thượng (chùa Cao), Am Tam Đức, chùa Khám, Bàn Cờ Tiên, bên những rặng cây trên núi, những bãi đá cổ nằm chân rừng thông. Có những tảng đá to, hình dáng, hình thù lạ mắt. Trên đỉnh núi có khoảng đất bằng phẳng, tục truyền là nơi Bồ Tát xuất thế. Phong cảnh thiên nhiên đẹp như Bồng lai tiên cảnh.

    Sự ra đời chùa Bổ Đà được tương truyền: “Xưa, làng có gia đình tiều phu nghèo, tốt bụng, nhưng hiếm muôn. Một hôm ông vác rìu lên núi kiếm củi, gặp gốc thông già, mỗi nhát bổ lại niệm: "Quan Thế Âm Phật” liền đó được 32 đồng tiền. Ông bèn đến vị cao tăng hỏi? Cao tăng bảo rằng: "Đức Phật Quan Âm cho 32 điều ứng”. Ông khấn cầu:" Đức Phật Quan Âm phù hộ cho tôi sinh con trai, tôi xin dựng chùa thờ”. Quả nhiên sau đó ông có con trai. Ông dành dụm tiền dựng một ngôi chùa ngay gốc thông già, lợp gianh và tô tượng “Quan âm Tống Tử” phụng thờ. Sau nhiều người qua lại lễ bái, cầu việc gì cũng ứng nghiệm, nên chùa trở thành thắng cảnh. Ông tiều phu (ông bổ - làm chùa), nên dân gian gọi là chùa Bổ”. Chùa thờ Phật Đà Quan Âm, nên gọi là chùa Bổ Đà (chùa Quán Âm). Bổ Đà là tên viết tắt từ Phổ Đà Lạc Già (đọc trại từ tiếng Phạn “Potalaka”). Theo điển tích: Phổ Đà núi Lạc Già – là Bồ Tát Quán Thế Âm ngự núi Lạc Già. Phổ Đà hay Bổ Đà đều có nghĩa chung là Bồ Tát.



    Am Tam Đức chùa Bổ Đà


    Thời Lê Trung Hưng, chùa Bổ Đà kế thừa Thiền phái Trúc Lâm, phát triển thành trung tâm Phật giáo lớn của Bắc Giang, và xứ Bắc. Bao quanh khu vực chùa Bổ là cây rừng và tường đất được chình bằng đất nện, mùa đông có tác dụng chắn gió rất tốt, mùa hè thì mát mẻ. Hệ thống tường đất có lịch sử gần 300 năm. Lại có hào sâu rộng để thoát nước, cùng hàng tre dày, bảo vệ (xưa ngăn thú dữ, nay ngăn trâu bò). Phía xa có núi sông bao bọc, làm cho không gian chùa thanh tịnh, linh thiêng. Lại có tường được xây bằng các (Tiểu –Quách) là đồ gốm sành, tạo vẻ trầm mặc. Vào chùa có ba lớp Cổng, theo kiểu “nghi môn cuốn vòm” xây gạch chỉ miết mạch. Lối vào lát đá muối (dài 45m, rộng 3,2m), hai bên đắp tường đất (chình tường) rêu phong. Cổng ngoài mặt tiền tạo cuốn thư ở giữa, dưới là ô chữ nhật đề chữ Hán: “A Di Đà Phật”, cửa hai cánh gỗ, đóng mở then cài. Cổng giữa kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX) hai tầng mái ngói mũi. Mặt tiền đắp hoa văn chữ Thọ tròn, lại có khung đề chữ Hán. Cổng trong mái đắp rồng chầu nguyệt, mặt dưới khung đề chữ Hán, hai trụ biểu có câu đối (chữ Hán) ca ngợi cảnh chùa.

    Quần thể di tích Bổ Đà gồm 2 chùa; 1 am; gần 100 tòa nhà, và vườn tháp.

    Chùa Quán Âm ở vị trí cao nhất, là di tích đầu tiên của Bổ Đà sơn (còn gọi: chùa Bổ/ chùa Cao/ chùa Thượng,). Theo điển tích dựng chùa khởi thờ là Quán Thế Âm. Tuy không nói rõ thời nào? Nhưng xét việc thờ Quán Thế Âm ở ta, mới chỉ thấy xuất hiện từ thời Mạc. Lại căn cứ vào tượng Quan Thế Âm, được tạo tác sau khi xây dựng chùa, mang phong cách thế kỷ XVI. Do vậy, di tích này mới có từ đó. Từ trên chùa nhìn bao quát chung quanh bao la, nhìn xuống rừng cây và am Tam Đức, khu chùa Tứ Ân, vườn Chùa và vườn Tháp. Không gian chùa Quán Âm thanh cao, thoáng đạt, trong mát, yên tĩnh chốn thiền lâm. Bia đá chùa ghi việc trùng tu chùa Quán Âm năm 1740 thời Lê Hiển Tông.

    Khuôn viên chùa Quán Âm trên núi có tường bao quanh. Đường bậc lên xuống vũng chắc. Sân chùa được lát gạch nâu, trước thềm chùa là bình Hương đá, và hai cây đèn đá. Toà Tiền đường xây gạch, trát vữa (vôi mật) mái lợp ngói mũi. Mặt tiền: hai bên có hai trụ biểu thân vuông, dưới đắp bệ cong chân vuông. Đỉnh trụ đắp trang trí bình cam lồ đặt trên đài sen. Bờ nóc, bờ dải kẻ nề dật cấp (tam sơn). Trán tạo ô kẻ nề chữ nhật đề: “Bổ Đà Sơn” (Núi Bổ Đà), dưới đắp nổi Lân vờn cầu, có ba cửa cuốn vòm. Chính giữa cửa lớn là bệ hương đá. Hai bên câu đối: “Tượng lĩnh triều tiền Bổ xứ ức niên lưu Thánh tích”/ “Phượng sơn ủng hậu Đà thiên vạn cổ hiển linh thanh”. Tạm dịch là: Phía trước chùa núi Con Voi chầu vào, chùa Bổ Đà nơi xưa còn lưu tích của Thánh/ Phía sau chùa núi Phượng Hoàng trấn giữ, chùa Bổ Đà ngàn vạn cổ tiếng linh thiêng. Trong Tiền đường: trên đề chữ Hán: “Nhạc giáng Thần” (Non cao Thần giáng). Bên tả có ban thờ Thiên long bát bộ. Hai bên có câu đối. Bên hữu có ban thờ Sơn Thần, trên đề chữ Hán “Sơn trấn tĩnh”. Hai bên có câu đối. Tòa Thượng điện nền cao hơn tiền đường 30cm. Hai bên câu đối. Bên đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát tọa trên bệ. Đầu đội mũ quan âm, vẻ mặt hiền từ, tay nâng bảo bối, nữ hầu hai bên (tạc gỗ,sơn son thếp vàng). Đây là bức tượng cổ nhất trong quần thể chùa Bổ Đà. Các trụ tường ngoài của chùa có các đôi câu chữ Hán: “Tịch quang chân cảnh”/ “Pháp giới tàng thân”. Tức là: Cảnh Phật sáng bình yên/Pháp giới Phật ẩn thân. Hay: “Nam Hương Tích Phật thiên ứng hiện”/“Bắc Đà sơn lịch đại truyền đăng”. Tức là: Nam có chùa Hương Tích, Phật trời hiển hiện/ Bắc có chùa Bổ Đà, truyền đời đèn hương. Hoặc: “Phật hiệu Di Đà”/ “Quốc danh Cực Lạc”. Tức là Phật tên là Di Đà/ Danh nước là Cực Lạc.


    Tượng Thái Thượng Lão Quân chùa Tứ Ân



    Tượng các Sư Tổ




     
    Tượng Đức Ông chùa Tứ Ân


     


    Thượng điện chùa Quan Âm núi Bổ Đà


    Am Tam Đức nằm trên núi (kề dưới chùa Quán Âm). Tam Đức là ba Đức cần có của người tu hành: Trí đức, Đoạn đức và Ân đức. Bia đá chùa ghi: Am Tam Đức được xây dựng cùng thời gian với chùa Tứ Ân vào thời vua Lê Hiển Tông 1740-1786, niên hiệu Cảnh Hưng, do sư Phạm Kim Hưng xuất giá tu đạo ở đây. Được vua sắc phong: “Đại sỹ quốc tứ Hảo Tiết Như Thị Hòa thượng, pháp tự Tính Ánh”. Sau khi sư tổ Phạm Kim Hưng viên tịch tại chùa Cao, các sư trụ trì và nhân dân địa phương tu bổ, tôn tạo am Tam Đức, làm nơi thờ sư tổ Như Thị - Phạm Kim Hưng (vị sư tổ đầu tiên), trong số các vị sư tổ theo dòng thiền Lâm Tế (viên tịch và an táng cốt nhục tại vườn Tháp của chùa). Am Tam Đức kiến trúc kiểu chữ nhất, gồm 5 gian. Ba gian giữa xây kiểu chồng diêm 2 tầng; tường xây gạch, trát vữa, mái lợp ngói mũi. Bờ nóc đắp trang trí hai con kìm miệng há rộng, đuôi hình hoa văn; dốc khuỳnh bờ nóc hồi đắp trang trí hai con nghê ngoảnh vào mái. Bốn đầu đao cong đắp hình đầu rồng. Bờ dải xây giật cấp nối với cột đồng trụ hai bên am. Cột trụ xây gạch, trát vữa, trên đỉnh đắp hình con phượng. Câu đối chữ Hán: “Nam thiên tục diệu Bổ Đà sơn”/“Đông thổ mạch lưu Lâm Tế phái”. Tạm dịch: Trời Nam chùa Bổ Đà luôn luôn tỏa sáng/ Vùng phía Đông dòng Lâm Tế lưu truyền. Mặt tiền am Tam Đức trổ hai cửa hình chữ Thọ cách điệu. Am có 3 cửa: 18 cánh, 4 cánh gian giữa làm theo kiểu thượng song hạ bản, còn lại là cửa kiểu bức bàn. Nền am lát gạch vuông đỏ. Các cấu kiện kiến trúc đều được làm bằng gỗ lim bền chắc, chạm khắc đề tài hoa lá. Trong gian chính giữa, trên có đại tự: “Như Thị Tổ” (tổ Như Thị), dưới là bức cửa võng chạm khắc hình hoa lá lộng lẫy. Hai bên là đôi câu đối, giữa đặt Hương án. Pho tượng Tổ Như Thị (bằng gỗ), ngồi tọa thiền trên bệ. mặc hai lớp áo đỏ, mặt hồng, hai tay đặt trên đùi. Am Tam Đức xây trên núi trong quần thể thắng tích Bổ Đà sơn thời Lê Trung Hưng và năm 2010 mới được trùng tu lại.

    Hợp thể di tích chùa Tứ Ân - tên chữ là “Tứ Ân Tự” xây dựng ở chân núi Phượng Hoàng. Năm Canh Tý (1720) niên hiệu Bảo Thái thời vua Lê Dụ Tông (1706-1729) vị sư là Phạm Kim Hưng khi vân du tới đây, thấy phong cảnh địa linh tịch tĩnh, có thể lập thành nơi khoa trường thuyết pháp, bèn mua nửa quả núi lấy ở làng bên đông 20 chỗ làm đất Tam bảo, cùng với nhân dân xây dựng Tam Bảo chùa Tứ Ân và am Tam Đức. Dựng các tòa: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Dùng gỗ lim, gạch ngói xây dựng một gian, cử tăng già chùa Tứ Ân chủ trì. Năm 1740 niên hiệu Cảnh Hưng vị sư tổ được vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) sắc phong là Hảo tiết hoà thượng, tự là Tinh Anh. Ngài lại mua 20 xứ ruộng (4 xứ lưu vào chùa, 16 xứ giao cho hai thôn phân canh tùy lệ thiết lễ), lại làm thêm các gian chùa, từ đó Tứ Ân Tự Bổ Đà trở thành nơi tùng lâm sầm uất. Kiến trúc Chùa Tứ Ân: "Ngoại bế Nội thông" tạo vẻ u tịch, linh thiêng. Tư liệu về chùa: Tổng diện tích quần thể chùa khoảng 51.784m2, chia ba khu: Vườn chùa: 31.000m2, Nội tự chùa 13.000m2, và khu vườn tháp rộng: 7.784m2. Chùa hướng chính Đông Nam, hệ thống kiến trúc hài hòa với 18 tòa, gần một trăm gian nối nhau, tạo thành hệ thống các nhà ngang dãy dọc liên hoàn, cổ kính hiếm thấy. Các vật liệu xây dựng: gỗ lim, gạch, ngói, gốm sành. Cổng và một số gian nhà được xây dựng hoàn toàn bằng đất nện theo lối chình tường độc đáo. Đây là công trình tôn giáo được xây dựng và phát triển ở thời Lê, và thời Nguyễn. Nhiều chum vại sành ở góc sân.Tường nhà Trụ trì xây các tiểu sành (gốm Thổ Hà). Từ hai dãy Hành lang (nối từ nhà trai đến nhà pháp, song song với tòa Thượng điện), gồm 6 gian, các kẻ bẩy hiên đều chạm khắc nổi vân mây (hình đao mác). Nhà trai gồm 3 gian. Nhà trụ trì có 3 gian đối diện sân gạch Tiền đường (tạo đăng đối) với Giảng đường. Nhà khách sau nhà trụ trì, với bốn bậc thềm hiên, kiến trúc đơn gỉản kiểu chữ nhất có 6 gian, cửa sổ hình chữ Thọ cách điệu. Phên dại bậc hiên che nắng. Nhà giảng đường 3 gian. Gác kinh sát liền với nhà Giảng đường và nhà Trụ trì. Nhà Pháp 7 gian nằm sau nhà Giảng đường. Nhà in Kinh làm kiểu chồng diêm 2 tầng, cao 8m. Nhà Tạo soạn gồm 7 gian. Kết cấu khung nhà kiểu “tiền kẻ, hậu bẩy”. Nhà Tổ sau nhà Tạo soạn, có 5 gian dài 20m, rộng 6.5m song song phía sau tiền đường, trong bài trí ban thờ, ba pho tượng tam Tổ của thiền phái Trúc Lâm. Các gian nhà đều xây tường gạch, mái ngói mũi, nền lát gạch vuông. Nét chạm khắc mang phong cách thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Nền chùa cao hơn sân, đặt gần cửa chùa là Lư Hương đá, và đôi đèn đá cao 2,5m. Sân chùa lát gạch vuông (dài 12,6m, rộng 9,30m), có các bồn hoa cảnh: hồng, trà, ngâu, phong Lan. Phía tả có một bể non bộ. Sân cao hơn vườn chùa, ngăn cách bởi hệ thống tường đất. Vườn chùa rộng, nhiều cây xanh tỏa bóng mát, sum xuê hoa quả, củ bốn mùa (nhãn, mít, vải thiều, thị, sấu, na, chuối, đu đủ, sắn, đỗ tương, lạc).


    Tượng Quan Âm chùa Bổ Đà






    Các lớp hoành phi và tượng Phật chùa Tứ Ân



     


    Tượng trên Thượng điện chùa Tứ Ân



    Từ mặt sân chùa, qua ba bậc thềm đá xanh lên chùa Tứ Ân. Trên ngưỡng cửa có 5 bộ cửa gỗ lim, mỗi cửa bốn cánh, kiểu thượng song hạ bản (gian giữa), kiểu cửa bức bàn (4 gian còn lại). Cửa theo kiểu chân quay dọc trên bạo cửa. Tam Bảo với kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm tòa Tiền đường (nằm ngang) giữa là gian Thiêu Hương nối dọc vuông góc với tòa Thượng điện. Tiền đường xây tường gạch lợp ngói, bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi hài. Nhà khung gỗ, kiểu chồng giường dài (21m rộng 11m) 7 gian với 4 hàng chân cột, mỗi hàng 8 cột, hệ thống cột cái và cột quân đều được kê chân bằng đá. Tòa Tiền đường đặt tượng Quan Âm Nam Hải và hai pho tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát. Còn có các tượng Đức ông, Thánh hiền, Thái Thượng Lão Quân, Thổ địa. Tòa Thượng điện cấu kiện bằng gỗ lim. Hậu cung dài gồm 5 gian. Nền lát gạch nâu. Thượng điện bài trí các lớp tượng Phật từ Tam thế, A Di Đà, Như Lai, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, đến tòa Cửu Long. Hai bên là Thập điện Diêm vương. Đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mạng (1820 - 1840) trùng tu một ngôi nhà hai gian bằng đá. Năm Giáp Dần niên hiệu Thiêu Trị (1841 - 1847) lại đúc tượng Quan Thế Âm, tiếp tục xây dựng chùa Tứ Ân. Năm Bính Ngọ niên hiệu Tự Đức (1847 - 1883) đệ tử là Phả Thuần lại dựng năm gian làm nơi từ tụng. Tiếp đến hoà thượng Như Chiếu và Phả Tiến cùng các Hòa thượng sau này tu bổ mở mang, chùa thành nơi tùng lâm quy mô rộng lớn. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử và đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, chùa Tứ Ân vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ. Chùa là nơi tu hành đắc đạo của nhiều đời cao tăng, và là trung tâm đào tạo các tăng, ni trong vùng thuộc xứ Kinh Bắc. Hằng năm kết hạ rất đông nhà sư về an cư, học tập kinh sách, đạo Phật tại chùa. Ngoài Trúc Lâm, còn có Phật giáo Thiền Tông, nhưng không thuần tuý, mà có sự kết hợp các yếu tố của Tịnh Tông, Mật Tông. Mặt khác còn tiếp thu và kết hợp với các yếu tố văn hoá dân gian, hay Nho giáo và Quán Đạo. Ta thấy chùa Tứ Ân có tượng Thạch Linh Thần Tướng với thần tích. Hoặc có tượng Khổng Tử và Thái Thượng Lão Quân. Bởi vậy Chùa Tứ Ân là nơi kết hợp cả các yếu tố văn hoá đó. Bia đá soạn khắc thời Lê Dụ Tông (1740-1786) thế kỷ XVIII ghi việc: xây dựng chùa Tứ Ân, am Tam Đức và trùng tu lại chùa Quán Âm. Bia đá khắc thời Minh Mạng (1839), ghi việc gửi giỗ và công đức. Bia đá khắc thời Tự Đức (1881) ghi những người công đức tiền của, đồng thiếc đúc chuông chùa Tứ Ân. Minh văn Bia đá và chuông đồng đều mang giá trị lịch sử văn hóa. Tựu trung: Hệ thống tượng Phật bằng gỗ ở Tam Bảo Thượng điện và tượng thờ Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang nhà Tổ chùa Bổ Đà là những tác phẩm điêu khắc của hai thời Lê - Nguyễn.

    Chùa Tứ Ân tuy xây muộn (dưới chân núi) song hệ thống chùa mở mang lớn rộng, đã trở thành là nơi tụ hội chính. Từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) quần thể chùa Bổ Đà trở thành nơi tùng lâm sầm uất. Di tích danh thắng Bổ Đà hợp làm một quần thể liên hoàn gồm: chùa chính (Tứ Ân Tự), am Tam Đức, chùa Cao (chùa Quán Âm), chùa Khám, chùa Linh Chi, chùa Vân Sơn, đền thờ Đức Thánh Hóa, đền Thạch Long (Thạch Linh Thần tướng). Khu ao Miếu, đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Cam Vàng, đình Ngự, đình Lát Thượng, đình Lát Hạ. Chốn tổ thắng tích Bổ Đà còn là trung tâm Phật giáo lớn, truyền bá, duy trì và phát triển phái thiền Trúc Lâm tại vùng Kinh Bắc xưa.

    Vườn tháp cổ Bổ Đà nằm thoải theo chân núi Phượng Hoàng, có diện tích gần 8.000m2. Bao quanh là tường đất chình rêu phong. Người viên tịch đầu tiên cách đây khoảng 300 năm, được xây tháp để an táng ở khu linh địa này, là vị sư tổ Phạm Kim Hưng. Sau đó lần lượt mộ tháp khác được xây dựng. Như vậy vườn Tháp có niên đại khởi dựng là thế kỷ XVIII. Tư liệu chùa cho biết: “Vườn tháp, lưu xá lị, tro cốt nhục thân của 1214 vị cao tăng, thiền sư tu hành thiền phái Lâm Tế trong cả nước. Với 99 ngôi tháp linh thiêng, cổ kính lớn, nhỏ xây ba, bốn tầng. Chưa kể 18 mộ không xây tháp với nhiều kiểu khác nhau”. Đặc trưng các ngôi tháp chùa Bổ Đà đều được xây dựng bằng gạch, đá, xây vôi vữa mịn (trộn mật mía, bột giấy bản) miết mạch nên rất bền. Các ngôi mộ tháp đều thống nhất kiểu tháp trụ hình vuông, xây theo lối thượng thu hạ thách (thu dần lên phía trên) trang trí hoa văn. Tháp có độ cao từ 3 – 5m, kết cấu 3 tầng gồm: ngọn tháp, thân tháp và đế tháp. Trên đỉnh tháp thường được xây cách điệu vòm (thu trên, phình dưới bắt với đao cong) đỉnh vút. Mặt trước ở tầng hai thường có một hay vài ô cửa nhỏ để bát hương, bài vị, bia của người viên tịch. Tất cả các tháp đều có một cửa nhìn về núi Mả Tổ (hướng Đông Bắc). Vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam. Mộ tháp có 2 loại chính, phân biệt loại tháp ở chỗ: trang trí đỉnh tháp và chiều cao và đế tháp. Tháp sư tăng đỉnh tháp gắn bình Cam lồ đặt trên đài Sen. Tháp sư ni đỉnh tháp gắn một bông Sen đặt trên đấu hình vuông.

    Bên trong một số tháp đặt bia, bài vị chữ Hán (ghi sinh, hóa và công trạng của tăng ni phật tử theo dòng Thiền Lâm Tế). Có ngôi tháp mộ là nơi an nghỉ của 26 nhà sư, có tháp mộ ít cũng có tro cốt của 4-5 nhà sư. Họ đều là huynh đệ cùng một mái chùa, cùng thiền phái Lâm Tế, cùng tu một thầy, trọng tình và thân thiết với nhau trong lúc sống, muốn khi về cõi cực lạc vẫn được nằm cạnh nhau. Theo Đại đức Tự Tục Vinh: “Vị trí của vườn tháp tọa ở huyệt bụng của chim Phượng Hoàng đang trong tư thế nhào lộn, ngoảnh nhìn hướng Đông Bắc (theo triết học Phương Đông là hướng của trí tuệ). Phía trước vườn tháp nhìn về núi Mả Tổ, xa hơn là núi con Voi, con Hổ. Núi Mả Tổ xưa kia là nơi hỏa thiêu của các tăng ni, phật tử ở chùa, sau đó lượm tro cốt, xá lị nhục thân đem về đặt trong tháp. Trong ngôi tháp chứa đựng nhiều tro cốt, xá lị là do những tăng ni phật tử khi tu hành ở chùa, họ đều là anh em cùng sơn môn, tu cùng một thầy, quý mến nhau khi về nơi tịch diệt vẫn muốn được nằm cạnh nhau ở khu linh địa này”. Vườn tháp chùa Bổ Đà mang giá trị về nghệ thuật kiến trúc, về lịch sử Phật giáo chốn tổ Bổ Đà Kinh Bắc, và là nơi tín ngưỡng từ xưa. Nó không hề gợn “không khí mộ mả”, mà gợi về “tâm linh Phật giáo”, cõi yên giấc ngàn thu của các sư tu hành đắc đạo.


    Chuông chùa Tứ Ân





    Mõ cá bằng gỗ chùa Tứ Ân 



    Giá trị Hán - Nôm chùa Bổ Đà: lưu giữ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình. Các câu đối, hoành phi đại tự, Văn Bia, Minh văn chuông, Văn khắc mộc bản (kinh / sách phật thời Lê - Nguyễn. Hợp thành một di sản Hán Nôm chùa Bổ Đà để lại cho đời sau. Mộc bản kinh Phật: khắc in các tạng kinh Phật, sách - luật - giới nhà Phật, truyền giáo có giá trị. Bộ mộc bản kinh Phật khắc nổi chữ Hán-Nôm (ngược) trên gỗ thị nét chữ tinh xảo, rõ nét. Trải qua khoảng 300 năm, bộ kinh vẫn còn khá nguyên vẹn, bền đẹp. Mộc bản khắc ở chùa Tứ Ân chủ yếu nói về Quán Thế Âm Bồ Tát. Song chùa còn lưu giữ nhiều bộ sách kinh Phật, như: Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam Hải ký quy… Theo thống kê của chùa: Mộc bản được xếp trên 8 giá, mỗi giá có 4 tập sách kinh, gồm 240 tấm ván gỗ hợp thành. Mỗi tấm gỗ khắc kinh (trung bình dài 50cm, rộng 25cm và dày khoảng 2,5cm). Tất cả có khoảng gần 2.000 tấm (trải rộng 250m²). Các bộ kinh Phật được khắc niên hiệu Cảnh Hưng, thời Lê Hiển Tông (1740-1786) và thời Nguyễn. Những bộ sách kinh (Hán- Nôm) một số đã in (và dịch ra chữ quốc ngữ cho thấy những tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, sự ảnh hưởng sâu đậm dòng thiền Lâm Tế (Trúc Lâm Tam Tổ), được phát triển, cực thịnh trong vùng rừng núi Bổ Đà (Thế kỷ XVII-XVIII). Bên cạnh đó, trong bộ kinh gỗ này còn nói đến những đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa truyền vào Việt Nam, với 3 tông phái (Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông). Trọng tâm nói đến nỗi khổ và sự giải thoát. Tiêu biểu là Tứ Diệu Đế (bốn chân lý kỳ diệu của đạo Phật, gồm: Đạo Đế, Nhân Đế, Khổ Đế, và Diệt Đế). Trong Bộ kinh còn về cõi Niết bàn, vòng luân hồi chuyển kiếp của đời người, cõi vô vi, sự tu nhân tích đức. Bộ kinh được hình thành từ ý tưởng của các vị sư tổ, người xây dựng chùa Tứ Ân, đào tạo truyền dạy đạo Phật. Cùng với các hoành phi đại tự, câu đối trên: cổng, cửa, cột chùa, trụ biểu. Ngữ nghĩa (Hán Nôm) triết tự, ý tứ sâu xa, ca ngợi tư tưởng nhà Phật, cảnh đẹp nơi thiền cư, răn dạy lòng nhân ái. Thể hiện mỹ thuật trang trọng, mang vẻ đẹp lộng lẫy vàng son. Câu đối: “Đạo tinh nhân tâm mãn mục nhược lâm viên giác địa”/“Hồi quang Phật tính thốn thành như tại tứ ân thiền” Tạm dịch: Đạo Phật sáng lòng người, thỏa nhìn thấy đẹp như rừng/ Ánh sáng Phật tỏa rạng, lòng thành như Tứ Ân chùa. Minh văn bia đá chuông chùa Tứ Ân cho biết về lịch sử xây dựng và tôn tạo chùa, và công đức. Như vậy di sản Hán - Nôm chốn tổ Bổ Đà: mang tư tưởng Phật giáo; Công lao sư Tổ xây dựng, mở mang truyền giáo, phát triển thiền phái Trúc lâm; Đức Phật từ bi, răn dạy lòng nhân ái; hảo tâm công đức; Hoặc ca ngợi cảnh thiền mỹ lệ, chốn Bổ Đà sơn. Từ những nguồn đó hợp thành hệ thống Di sản Hán Nôm chùa Bổ Đà.

    Tựu trung: Từ chùa Quan Âm thời Mạc, đến các công trình kiến trúc xây dựng thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, hợp thành quần thể chùa Bổ Đà. Hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật, tài liệu cổ quý hiếm, mang ý nghĩa lịch sử văn hóa nghệ thuật truyền thống. Từ tượng Quan Âm thời Mạc đến các tượng Phật Trúc Lâm, tượng chùa, trang trí hoành phi đại tự, câu đối, chạm khắc kiến trúc: cột kèo, đầu bẩy; trên đồ thờ: hương án, Văn bia, văn khắc, tài liệu, thư tịch của những “Mộc bản khắc gỗ” (chữ Hán – Nôm) in kinh. Các hiện vật (chuông đồng, đèn cây, choé, lọ độc bình, mõ cá) quý hiếm, có niên đại thời Lê – Nguyễn. Nó không chỉ có giá trị nghệ thuật, mà còn giá trị lịch sử sự phát triển Phật giáo. Nhiều bức tường xây bằng tiểu sành Thổ Hà, hay tường đất (chình tường) có niên đại cách nay 300 năm. Hàng năm, Lễ hội Bổ Đà diễn ra từ 16-18 tháng hai Âm lịch long trọng, đông vui, cờ phướn rực rỡ. Khu vực di tích chùa Bổ Đà, mở cửa đón khách thập phương. Trung tâm lễ hội là đền Trung ở sườn Nam, lên chùa Quan Âm trên đỉnh núi; và chùa Tứ Ân ở chân núi Phượng Hoàng, cùng hội đền: thờ Thạch Linh thần tướng. Yếu tố tín ngưỡng dân gian và Phật giáo hoà vào nhau. Những làn điệu dân ca quan họ trữ tình, ấm áp sắc xuân. Vẻ đẹp núi sông, sơn thuỷ hữu tình tạo nét độc đáo của lễ hội. Năm 1992, Chùa Bổ Đà được công nhận là di tích lịch sử nghệ thuật cấp Quốc gia.

    Nguyễn Văn Chiến

Share:         LinkHay.com