E-mail        Print        Font-size  
  • Nét độc đáo của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc lăng họ Ngọ - Bắc Giang

    Tháp mộ




    Lăng Họ Ngọ có tên chữ Hán là Linh Quang Từ, thuộc xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, xưa thuộc tổng Quế Trạo, phủ Bắc Hà. Trong các hệ thống lăng đá hiện còn ở Bắc Giang, thì lăng Họ Ngọ có thể xem là khu di tích được bảo tồn nguyên vẹn nhất. Xưa, lăng được xây dựng nên làm nơi thờ Phương Quận công Ngọ Công Quế, một trong những quan đại thần triều Lê. Ngọ Công Quế là bậc văn võ song toàn, thời làm quan ông được bề trên rất sùng ái tin cậy. Do có nhiều công lao trong việc dẹp loạn, an dân nên ông được triều đình ban thưởng rất hậu. Dưới triều Lê Hy Tông, năm Chính Hòa thứ 18, ông đã được vua phong tặng: Đặc Tiến Kim Tử, Vinh Lộc Đại Phu, giữ chức Phó Tả Thị Nội Thư, Tả Binh Phiên, Tư Lễ Giám, Đô Thái giám và được phong tước Lộc hầu. Cũng chính năm này, ông đã cho khởi công xây dựng khu lăng mộ cho mình ở quê nhà. Trên tấm bia đá lớn hiện được dựng trong lăng đã ghi rõ sự kiện này. Năm 1714, khu lăng mộ này lại tiếp tục được tu bổ và trở thành là nơi thờ cúng tổ tiên họ Ngọ, phối thờ cha và ông nội của Ngọ Tướng công. Khoảng gần 10 năm trở lại đây, con cháu họ Ngọ đã khôi phục lại đền thờ của dòng họ ở ngay phía sau khu lăng, cũng là cách dòng họ tiếp tục bảo tồn di sản của cha ông.

    Theo bài văn khắc trên văn bia "Linh Quang Từ chỉ bi ký" niên hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697) và niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ nhất (1705), lăng này do chính Ngọ Công Quế thiết kế xây dựng vào năm 1697. Tương truyền, khi xây dựng lăng, Ngọ tướng công đã thuê thợ đục đá làm tượng tại núi Y Sơn (Ia) tại Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang. Khi vận chuyển đá, tượng về lăng đi ngang qua đền thờ Hùng Linh Công ở chân núi, xe không sao nhúc nhích được. Ngọ Công Quế đã vào đền này làm lễ tạ, sau đó cúng vào một đôi ngựa và voi đá. Từ đó việc xây lăng mới trôi chảy.


    Cổng mộ và phù điêu võ sĩ

    Lăng có bình đồ hình chữ nhật, mặt quay hướng chính Nam với diện tích khoảng 400m2. Phía trước có một ao hình chữ nhật làm minh đường cho toàn bộ lăng. Trước đây, xung quanh bốn mặt lăng đều có tường đá ong, nay chỉ còn lại phần tường phía Nam cao chừng hơn 2m là phần hai bên của cổng vào. Cổng dẫn vào lăng xây kiểu vòm cuốn, hai bên cửa có chạm phù điêu hai võ sĩ cầm chùy. Phía ngoài cổng có 1 con chó đá được tạc theo phong cách hiện thực. Qua cổng lăng, đăng đối hai bên đường thần đạo là các tượng chầu, hương án đồ thờ bao gồm: đôi voi phục, cặp người ngựa, đôi nghê nằm. Hương án chính giữa bằng đá khá cao, hai bên có đôi nghê ngồi đầu ngẩng cao. Phía trước hương án có 2 bàn đá cao, và phía sau có một bàn đá to và thấp đặt khá sát với cổng mộ dùng để đặt đồ lễ trong ngày tế.

    Kiến trúc khu mộ có thể xem là nơi còn nguyên vẹn nhất của di tích này với kết cấu là một thành bằng đá cát ghép hình chữ nhật diện tích 15x12,5m, chiều cao thành đá gần 2m. Cổng mộ lại chạm phù điêu nổi khá cao. Phía trên cổng khắc chữ “Linh Quang Từ”. Trung tâm kiến trúc này là một tháp đá hình vuông với hai tầng mái cong mui luyện. Đây là nơi quản thi hài của Ngọ Công Quế. Tầng hai có cửa bốn mặt, có bốn bức phù điêu hổ phù được chạm khắc khá tỉ mỉ.

    Có thể thấy rằng mô hình của khu lăng này có mẫu thức chung với hầu hết các lăng đá giai đoạn như lăng Phạm Đôn Nghị (Hà Tây), Dinh Hương (Bắc Giang), Nguyễn Văn Nghi (Thanh Hóa). Dạng thức lăng xây kiểu thành trì, các khu lăng, mộ, văn bia đều gói gọn trong mặt bằng tổng thể đó. Tuy nhiên ở mỗi khu lăng mộ này đều có một nét đặc sắc riêng. Khu lăng họ Ngọ có mặt bằng khá tương đồng với lăng Dinh Hương, nhưng không dàn các hạng mục công trình theo chiều ngang mà được thiết kế theo kết cấu trọng tâm. Tức thành trong thành, khiến cho kiến trúc thắt mở khá linh hoạt. Bước qua cổng lăng, người ta có thể cảm nhận được không gian nghiêm trang với cách thức bài trí đồ thờ qui củ, đủ đầy, viên mãn. Trong khi đó bước qua cổng thành nội của khu lăng lại đem đến cảm giác tĩnh lặng, an nhiên. Cách thức bài trí kiến trúc như thế cũng đồng thời cho người tham quan, hành lễ những cảm nhận rõ rệt về hai thế giới. Phía bên ngoài là trần tục và là không gian tưởng niệm, còn bên trong là thế giới siêu thoát.


    Hương án

    Về chất liệu, Lăng họ Ngọ là phối hợp một cách điều hòa giữa đá cát và đá ong trong xây dựng. Đây cũng là những chất liệu khá phổ biến ở tổng Quế Trạo xưa. Tường bao cổng thành ngoài là đá ong, còn các thành phần được chạm khắc như cổng nội và cổng ngoại khu lăng, tường thành khu mộ là chất liệu đá. Về kỹ thuật kiến trúc, thì đá cát hay đá ong đều xây kiểu đan lóng so le có sử dụng vữa kết dính thường là vôi và mật mía. Phần tường bao khu mộ, thì tùy theo kích cỡ của các tảng đá, mà người thợ khi xếp cắt vuông vắn đặt vào. Tuy nhiên nguyên tắc là các tảng to đặt dưới có tính chịu lực, còn các tảng nhỏ hơn đặt trên. Người ta cũng sử dụng kỹ thuật lắp mộng mang cá để lắp các khối đá khiến cho chúng không xô lệch. Chạy dọc theo tường này có mái tường là các tảng đá cắt vát và một sống mái ở chính giữa. Cách thức xây mái này khiến cho đường bao kiến trúc trở nên mềm mại, đẹp đẽ. Hàng đá xếp trên cùng lại tạo rãnh soi hai gờ, như tô điểm cho sự duyên dáng, thanh thoát cho kiến trúc, bớt đi sự nặng nề cục mịch. Các chất liệu đá này thường để trần phô ra vẻ đẹp tự nhiên. Về màu sắc thì đat cát và đá ong cũng tạo nên sự ăn nhập với nhau bởi vẻ mộc mạc của chúng. Nhìn vào sự chau chuốt của kỹ thuật lắp đá ở tường thành khu mộ và tháp mộ trung tâm có thể thấy kỹ thuật xây dựng đã đạt đến độ hoàn hảo.

    Ngoài tính mạch lạc của kiến trúc tổng thể lăng, thì các tác phẩm điêu khắc ở đây phần lớn có kích thước khá khiêm tốn. Chúng được chia làm 2 loại: loại đồ thờ là hương án và bàn đá. Các tượng các con vật linh và tượng, phù điêu người thờ. Hầu như tất cả các tác phẩm này đều cao dưới 1m trừ điêu khắc tượng người đứng thành cặp với tượng ngựa. Với chiều kích đó thì các tác phẩm này đã ăn nhập hoàn toàn với tổng thể mô hình và tỷ lệ kiến trúc chung của khu lăng mộ. Chúng góp phần tạo nên vẻ thân thuộc, gần gũi.

    Các tác phẩm điêu khắc đá là đồ thờ, dường như là sự chuyển thể một cách tài tình mẫu thức của chạm khắc gỗ lên đá. Điển hình là Hương án được chia làm 3 phần, phần trên cùng là hàng lan can mỏng kiểu con tiện vuông. Thân hương Án chạm khắc các băng hoa văn dày đặc với motip hoa cúc và hoa sen, phần chạm trung tâm là hình tượng rồng đầu ngóc cao với những dải dao mây mác dày đặc. Phía dưới cùng, nghệ nhân chạm khắc đã chia hương án thành dạng thức trang trí ô hộc với các hình vuông, hình chữ nhật xen kẽ nhau. Kỹ thuật chạm khắc cho thấy sự tỉ mỉ chau chuốt đến từng chi tiết.



    Tượng chầu: người ngựa

    Các điêu khắc nghê cũng được chú ý cẩn trọng. Đôi nghê ngồi hai bên hương án với dáng ngồi khá cân đối, đầu nghê tạc mắt lồi, miệng ngậm viên ngọc nhỏ. So với đôi nghê của lăng Dinh Hương thì đôi nghê này có kích thước nhỏ hơn nhiều và cũng mộc mạc hơn. Phần nữa do chất liệu đá cát phong hóa theo thời gian, nên các nét dục chạm hiện nay đã bị bào mòn.

    Các điêu khắc tượng người ở Lăng Họ Ngọ cũng là những điểm nhấn đặc biệt. Hai võ sĩ chạm cổng khu mộ là kiểu trang trí kiến trúc tương đồng với lăng Phạm Đôn Nghị và Phạm Mẫn Trực (Hà Tây cũ) hơn là lối dựng lăng đá trong lăng mộ ở Bắc Giang. Điều đã cho thấy mẫu thức lăng là rất linh hoạt và có sự giao thoa giữa các vùng. Tuy nhiên, so với các tác phẩm ở hai khu lăng Hà Tây, thì hai bức chạm này lại hết sức giản dị. Võ sĩ cầm chùy có tỉ lệ chiều cao chừng hơn 4 diện (tỉ lệ khá thấp) đầu đội mũ kim khôi, toàn thân mặc giáp phục, tay chống lên chùy dày. Đặc biệt chân dung hai pho tượng này để lại một ấn tượng khá sâu sắc với đôi mắt trố to lồi hẳn ra. Phong cách chạm khắc này mang đậm dấu ấn của nghệ thuật dân gian. Hai bức phù điêu này khác hẳn với cặp tượng tròn quan hầu đứng hai bên cặp ngựa.

    Có thể thấy rằng, với sự hòa đồng trong phong cách điêu khắc và kiến trúc, khu lăng họ Ngọ đã tạo nên một tổng thể hài hòa. Nó phản ánh trình độ kiến trúc cũng như điêu khắc đá cuối thế kỷ XVII ở Bắc Giang. Khu lăng này vừa mang mẫu thức chung cho lăng mộ thế kỷ XVII ở Việt Nam, đồng thời lại là điểm nhấn cho sự phát triển mạnh mẽ hơn vào các thế kỷ sau trong loại hình kiến trúc điêu khắc nơi đây như lăng Nội Dinh, Dinh Hương, Bầu… cùng tổng Quế Trạo xưa.

    Trang Thanh Hiền

    (Ảnh nguồn: Bùi Thế Tâm)

Share:         LinkHay.com