E-mail        Print        Font-size  
  • Chùa Vĩnh Nghiêm và di tích liên quan đến phật giáo Trúc Lâm Yên Tử

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chùa Vĩnh Nghiêm





    Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam được vương triều Trần khởi xướng và xây dựng. Người có công đầu và cũng là đệ nhất tổ Trúc Lâm Yên Tử là đức vua Trần Nhân Tông - người đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại hai cuộc xâm lược của Nguyên Mông (1285 và 1288) đưa đất nước Đại Việt bước vào một kỷ nguyên mới của nền độc lập dân tộc. Ngay sau đó, năm 1299, Trần Nhân Tông đã xuất gia lên núi Yên Tử tu hành theo đạo Phật. Tại đây Người đã tiếp thu tri thức của Phật giáo từ các tổ như: Hiện Quang (thời Lý), Viên Chứng Quốc Sư, Đại Đăng Quốc Sư, đặc biệt là Tiêu Dao Tổ Sư và Huệ Tuệ Tổ Sư. Đây là hai vị tổ sư mà Trần Nhân Tông đã lĩnh hội trực tiếp nhiều tri thức và ý tưởng mới của tư tưởng thiền phái Trúc Lâm trước đó. Trước khi viên tịch, Huệ Tuệ Tổ Sư đã truyền thừa tâm ấn cho Trần Nhân Tông. Kể từ đây, Trần Nhân Tông đã lĩnh hội một trọng trách lớn đó là kế thừa Phật giáo Trúc Lâm trước đó, đồng thời mở mang tri thức cũng như tổ chức giáo hội Phật giáo Đại Việt thành một khối lớn - khối đại đoàn kết dân tộc trên tinh thần Phật giáo Đại Việt.

    Sinh cảnh của Yên Tử sơn, là một dãy núi lớn nằm ở vùng Đông Bắc miền Bắc Việt Nam, có diện tích khá lớn, với chiều dài ước khoảng 80km (đường chim bay) từ khu vực Kiếp Bạc- Côn Sơn huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đến hết khu vực Vịnh Lục Đầu, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Và chiều rộng khoảng 50km (đường chim bay) từ thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đến địa phận huyện Lục Ngạn của tỉnh Bắc Giang. Yên Tử sơn có nhiều đỉnh cao khác nhau, đỉnh cao nhất là khu vực chùa Đồng, còn gọi là đỉnh non Yên Tử, với độ cao 1068m. Đỉnh này quanh năm mây phủ bốn mùa. Đỉnh cao thứ hai là núi Phật Sơn, có độ cao gần 1000m. Các đỉnh khác như núi Quan Âm ở xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn 780m; đỉnh núi Thanh Mai 800m; đỉnh núi Thằng Người 700m; đỉnh núi Huyền Đinh 700m; núi Lòng Thuyền 600m; đỉnh Ngoạ Vân khoảng 900m; đỉnh núi Hồ Thiên khoảng 900m so với mặt nước biển.

    Dãy núi Yên Tử nằm trên địa phận chung của ba tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang và tỉnh Hải Dương. Với diện tích rộng và độ cao như vậy, nên ở khu vực Yên Tử luôn có lượng mưa khá lớn. Điều đó cũng tạo cho xung quanh những bồn địa/ thung lũng lớn, nhỏ khác nhau; đồng thời nó cũng tạo nên những con suối, sông lớn, tiêu biểu như sông Lục Nam ở phía sườn Bắc Yên Tử, xưa kia còn gọi là sông Minh Đức chảy suốt từ huyện Sơn Động, qua huyện Lục Ngạn rồi qua huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang rồi đổ vào cửa Lục Đầu Giang. Ở phía suờn nam của núi có sông Sinh, sông Chanh, sông Uông Bí, sông Hoành Bồ, sông Cầm đều thuộc tỉnh Quảng Ninh. Những sông này đều bắt nguồn từ dãy Yên Tử, chảy ra sông Bạch Đằng và sông Kinh Thày của hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương rồi đổ ra biển vùng Đông Bắc - miền Bắc Việt Nam.

    Toàn bộ sườn núi phía bắc và tây bắc của dãy núi Yên Tử đều thuộc khu vực huyện Sơn Động, huyện Lục Ngạn và huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.

    Chùa Vĩnh Nghiêm

    Chùa Vĩnh Nghiêm có từ thời Lý, song đến thời Trần, nhất là từ khi Trần Nhân Tông xuất gia tu hành đạo Phật, thì chùa Vĩnh Nghiêm ngày càng trở nên sầm uất, nhiều tăng, ni và các tầng lớp người trong xã hội lui tới. Xung quanh vùng đất chùa toạ lạc và gắn liền với chùa Vĩnh Nghiêm có rất nhiều huyền tích/ huyền thoại và truyền thuyết, cũng như nhiều lớp văn hoá phủ lợp lên nhau trải qua sự biến động, thăng trầm của lịch sử xã hội. Chùa Vĩnh Nghiêm (chùa Đức La), thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng, một “Đại danh lam cổ tự”, trung tâm đào tạo tăng đồ trong suốt thời gian gần tám thế kỷ hình thành và phát triển của Phật phái Trúc Lâm Yên Tử, đã được các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa xem như một bảo tàng văn hoá Phật giáo tiêu biểu ở Việt Nam. Tọa lạc trên vùng đất thiêng, chùa Vĩnh Nghiêm nhìn ra ngã ba Phượng Nhỡn, nơi hội tụ giữa sông Thương và sông Lục Nam, bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo - đền Kiếp Bạc. Ngoài chức năng thờ Phật, chùa còn phối thờ 3 vị Tam tổ của Phật giáo Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, nơi đây là trung tâm Phật giáo thời Trần, nên từ xa xưa đã truyền tụng rằng “Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.



    Tháp đá tại Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử


    Với bề dày lịch sử, chùa Vĩnh Nghiêm còn bảo lưu được hệ thống di vật rất đa dạng, độc đáo như: Hệ thống tượng thờ, hệ thống văn bia (8 tấm) soạn khắc vào thế kỷ (XVII - XVIII) và tấm soạn khắc năm 1932 ghi lại toàn bộ lịch sử phát triển của trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm; Hệ thống hoành phi-câu đối, đồ thờ... tất cả đều xứng đáng là những bảo vật quốc gia. Một trong những di sản văn hoá đặc biệt quý là những mộc bản được các vị sư tổ ở chùa Vĩnh Nghiêm cho khắc tạc từ những năm giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử, kho mộc bản được coi như là bảo vật quốc gia với nhiều giá trị tư liệu, lịch sử, nghệ thuật, văn hóa vô giá. Kho mộc bản được lưu giữ tại các kệ sách trong điện chính của chùa. Đây là kho sách bằng gỗ hiện còn hơn 3.050 bản, trong đó hầu hết là kinh, sách thuốc, luật giới nhà Phật. Theo dòng lạc khoản khắc ở bài tựa và cuối các cuốn kinh thì kho mộc thư chùa Vĩnh Nghiêm phần nhiều được khắc in dưới triều các vua Tự Đức, Thành Thái nhà Nguyễn (nửa sau thế kỷ XIX), một số ít được khắc dưới triều vua Cảnh Hưng, nhà Lê (nửa cuối thế kỷ XVIII). Khối lượng mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm với những giá trị độc đáo về văn hóa vật thể và phi vật thể không chỉ là tài sản vô giá của dân tộc mà còn là di sản văn hóa thế giới. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa này để tạo sự kết nối giữa truyền thống - hiện tại - tương lai, mở rộng giao lưu văn hóa là nhiệm vụ quan trọng.

    Nhận thức và đánh giá cao giá trị lịch sử văn hóa, nghệ thuật kho mộc bản ở chùa Vĩnh Nghiêm nên ngành văn hóa cũng như các chuyên gia văn hóa Hà Bắc trước đây và Bắc Giang ngày nay luôn trăn trở tìm phương pháp bảo tồn, đồng thời phát huy giá trị đặc sắc kho mộc bản có hiệu quả cao nhất.

    Trong kỳ họp của Ủy ban Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra tại Bangkok - Thái Lan từ 14-16/5/2012, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện nay, kho mộc thư vẫn lưu giữ được 34 đầu sách với trên 3.050 bản khắc bằng loại gỗ thị. Mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản) bằng chữ Nôm và chữ Hán, thể hiện tư tưởng, giáo lý của Thiền viện Trúc Lâm được lưu khắc rõ nét, mang đậm bản sắc dân tộc cùng những giá trị nhân văn sâu sắc.

    Có thể nói kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là bảo vật vô giá của quốc gia. Qua kho bảo vật này người ta có thể khai thác lượng thông tin phong phú, đa lĩnh vực như: Lịch sử Phật giáo, tư tưởng- văn hoá hành đạo, nhập thế của dòng thiền Trúc Lâm, lịch sử nghề khắc in mộc bản, thân thế sự nghiệp một số vị cao tăng có nhiều cống hiến cho sự phát triển nền văn hoá truyền thống của dân tộc... Hơn nữa, với sự tài hoa khéo léo của nghệ nhân xưa, mỗi mảnh ván khắc xứng đáng là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật để đến hôm nay người đời được ngưỡng vọng và có thêm nguồn tư liệu tìm hiểu nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam thời Lê- Nguyễn. Sự ra đời của chốn tổ Vĩnh Nghiêm gắn liền với Phật giáo thời Trần cùng với sự ra đời của Phật giáo Trúc Lâm do Giác hoàng điều ngự Trần Nhân Tông sáng lập từ những năm cuối thế kỷ XIII. Thế kỷ XIV, Phật giáo Trúc lâm đã trở thành Quốc đạo, trung tâm Yên Tử (nơi tu hành của Trần Nhân Tông) và chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang được xem như kinh đô của Phật giáo Đại Việt.

    Dãy núi Yên Tử là dãy núi lớn thuộc vòng cung Đông Triều chạy dọc từ phía Hòn Gai (Quảng Ninh) xuôi về vùng Đông Bắc- Bắc Giang và dừng mạch ở vùng Lục Nam và Chí Linh của hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương. Trong sơn phận của núi có phân thành các mạch, các nhánh lan tỏa trong địa dư ba tỉnh và chia thành hai phần: phần phía Đông thuộc hai tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương giáp biển, gần biển gọi là Đông Yên Tử. Phần phía Tây chủ yếu ở địa phận tỉnh Bắc Giang gọi là vùng Tây Yên Tử. Các mạch núi đó tạo nên các thung lũng, đồng bằng thuộc chi lưu các sông: Sông Lục Nam, sông Bạch Đằng, sông Kinh Thầy… Mỗi mạch núi của dãy Yên Tử đều có tên gọi khác nhau như: Yên Tử, Phật Sơn, Quan Âm, Huyền Đinh, Côn Sơn, Hồ Bấc, Thù Sơn, Chúng Sơn… trong đó ngọn Yên Tử là ngọn cao nhất: 1068m so với mực nước biển. Các ngọn khác đều dưới 1000m. Đặc điểm cơ bản của các ngọn núi thuộc dãy Tây Yên Tử chủ yếu đều là núi đất. Trong các dải núi đất ấy xen lẫn những khối núi đá vôi, đá cát kết, sa thạch, dung nham tạo nên những vách đá, những hang rộng, mái đá nhỏ và vừa. Do ảnh hưởng của khí hậu biển Đông nên thảm thực vật của rừng núi Yên Tử là thảm thực vật nhiều tầng. Đó là những cánh rừng nguyên sinh đủ các loài cây cối và là nơi sinh sống của nhiều loại động vật hoang dã.



    Chùa Vĩnh Nghiêm từ trên cao nhìn xuống


    Đạo phật đã đến vùng núi Yên Tử từ rất sớm. Có thể từ thời Lý hoặc trước thời Lý. Đến thời Trần, các vị yêu thích đã lên Yên Tử tham thiền học đạo, tiêu biểu có Tuệ Trung Thượng sỹ, vua Trần Thái Tông, vua Trần Nhân Tông, Pháp Vân… và đến đời vua Trần Nhân Tông, ngài đã sáng lập ra Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và lấy pháp hiệu là Giác Hoàng Điều Ngự Trúc lâm Đại đầu đà. Ngài chọn ra hai đệ tử trong số các đệ tử của ngài là Huyền Quang và Pháp Loa làm hai đệ tử kế truyền y bát. Đời sau gọi ba vị là ba vị tổ sư đầu tiên của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Trần Nhân Tông đã lấy Yên Tử làm Sơn môn của Phật giáo. Lấy chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) làm trụ sở trung tâm của Phật giáo Trúc Lâm. Tại chùa Vĩnh Nghiêm, ba vị đã khai tràng thuyết pháp, thống nhất giáo hội cả nước, theo về Phật giáo Trúc Lâm cho hàng ngàn tăng ni, ấn định giáo phẩm, in, dịch kinh sách,… làm cho Phật giáo Trúc Lâm phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian này, nhiều chùa chiền được trùng tu, xây dựng trở thành những chốn tùng lâm, danh lam thắng cảnh. Trong đó có các ngôi chùa trên các ngọn núi thuộc phía Đông và phía Tây dãy Yên Tử.

    Về phía Tây dãy Yên Tử, địa phận tỉnh Bắc Giang từ năm 1998 đến nay đã phát hiện nhiều ngôi chùa cổ nối liền từ chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) lên đến chùa Đồng (Yên Tử- Quảng Ninh); trong đó các ngôi chùa cổ trên các ngọn núi thuộc dãy Yên Tử là: Chùa Sơn Tháp, chùa Mã Yên (xã Cẩm Lý), chùa Bình Long (xã Huyền Sơn), chùa Hồ Bấc (xã Nghĩa Phương), chùa Am Vãi (xã Nam Dương). Bên cạnh đó còn có các chùa ở dưới chân các núi như: chùa Hàm Long (xã Nam Dương), chùa Đồng Vành (xã Lục Sơn), chùa Đám Trì (xã Lục Sơn), chùa Lê Ngạc (xã Nghĩa Phương), chùa Khám Lạng, chùa Cao (xã Khám Lạng), chùa Tè - Bảo Mai tự (xã Cương Sơn)… Các chùa này hiện nay đều nằm dọc theo con đường du lịch văn hóa tâm linh Tây Yên Tử, đã và đang được nhà nước và nhân dân trùng tu, khôi phục và tôn tạo để khai thác và phát huy.

    Về các chùa trên các ngọn núi Yên Tử, ngoài trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm, trên địa phận tỉnh Bắc Giang, qua điều tra khảo sát có thể thống kê bước đầu như sau:

    Chùa Sơn Tháp và chùa Mã Yên thuộc xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam đều nằm ở khu vực núi Tượng Sơn. Núi Tượng Sơn là núi lớn thuộc núi Huyền Đinh. Sách "Đại Nam nhất thống chí" chép: “Núi Tượng Sơn: ở xã Cẩm Lý, phía Tây huyện Lục Ngạn, mạch từ núi Huyền Đinh kéo đến, các núi liên tiếp nhau trông như bầy voi phục, giữa núi có chỗ lõm vào là đường đi, cửa đường hiểm có hình thế một người địch trăm người”. Trong núi này, chùa Sơn Tháp nằm ở đầu con đường vào và chùa Mã Yên nằm ở đỉnh núi. Dọc từ chùa Mã Yên xuống tới chùa Sơn Tháp là một con suối nhỏ có tên gọi là suối Vực Rêu có khung cảnh đồi núi cỏ tranh bạt ngàn, phong cảnh hữu tình.



    Một góc chùa Vĩnh Nghiêm


    Chùa Sơn Tháp nằm ở khu núi Sơn Tháp dựa lưng vào núi nhìn về khu đồng bằng xã Cẩm Lý. Chùa được san làm ba cấp, khu vực Tam bảo ở cấp thứ ba cao nhất, cấp thứ hai bỏ không vì bình diện hẹp. Cấp thứ nhất là sân vườn rộng có một nền có lẽ là Tam quan. Bên cạnh Tam bảo, có một nền nhà có lẽ dành để cho tăng ni cư trú. Vườn tháp được đưa lên núi, khu vực này bỏ đất tự nhiên, một lối đi xuống suối và lên Vực Rêu, cảnh đẹp hữu tình. Hiện còn phát lộ nền chùa chính dài 18m, rộng 10m. Nhà tăng ni dài 6m rộng 4m. Riêng khu Tam quan do nhà dân lên đây canh tác nên không có số liệu. Căn cứ vào các vật liệu của tháp cổ biết được Tháp chùa Sơn Tháp có mặt bằng với kích thước là: 1,4m x 1,4m, cao chừng 2,1m. Trong các vật liệu của tháp, còn một vật liệu khắc dòng chữ Hán: “Huyền cơ thiện thọ Pháp Vân hòa thượng vị” (Dịch là: Bài vị hòa thượng có đạo hiệu là Huyền Cơ thiền thọ Pháp Vân). Chùa Sơn Tháp nay là phế tích, tích của ngôi chùa đã được ghi ở sách “Đạo giáo nguyên lưu” có nói về quá trình vua Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành. Trên đường đi có nghỉ chân ở chùa Sơn Tháp (tài liệu cổ cũng cho biết sư Pháp Vân tu hành ở chùa Sơn Tháp).

    Chùa Mã Yên nằm ở lưng chừng núi, lòng chùa nơi phát nguyên của suối Vực Rêu, xã Cẩm Lý. Cũng là phế tích - chùa cùng hướng với chùa Sơn Tháp. Chùa dựa vào hai doi đất và bạt núi làm nền do đó trên bố cục mặt bằng chia làm hai khu: Khu vực Tam Bảo ở trên bờ cao của sườn núi, được kè đá ở mặt dưới. Nền chùa dài 18m rộng 14m. Cách 2 bên đầu chùa 3,5m có 2 nền nhỏ. Mỗi chiều dài 3,5m, rộng 2,8m. Phía dưới cách nền nhỏ bên phải là một nền kiến trúc nữa dài 21m rộng 7,8m. Dưới nền này là 2 thềm kè đá 5m và 3m, còn dưới thềm tam bảo có 3 thềm đất 20m, 15m và 10m. Một bãi rộng có 2 ổ đá (ngờ là 2 mộ sư). Chùa Mã Yên là chùa ở sườn núi Lòng Thuyền có độ dốc lớn, cây cối chủ yếu là rừng Trảng do đó việc tìm nguồn nước rất quan trọng. Ngay cấp thứ 2 dưới Tam bảo có một khu giếng nước kè đá có nước quanh năm. Khu này gồm 3 giếng nhỏ. Trên một phiến đá lớn người ta đục lên đó một dấu chân lớn (dấu chân phật). Chùa này theo lịch sử phật giáo cho biết do thiền sư Pháp Loa xây dựng.

    Chùa Bình Long thuộc xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, bình đồ có 3 chùa chính: chùa Bình Long núi, chùa Bình Long đồi, chùa Bình Long làng. Hệ thống chùa Bình Long nằm ở dãy Huyền Đinh thuộc dãy núi Yên Tử. Sách "Đại Nam nhất thống chí" chép: “Núi Huyền Đinh: Ở hai tổng Đan Hội và Tranh Điền, cách huyện Phượng Nhãn 29 dặm về phía Đông giáp giới huyện Lục Ngạn, thế núi cao dốc liên tiếp hình như cái đinh treo nên gọi tên thế, chạy dài trên địa phận mấy làng là chấn sơn của huyện; trong loạn Sơn Tây, Lê Chiêu Thống chạy sang Bắc đóng quân ở đây”.

    Về khu chùa Bình Long núi gồm 2 hệ thống kiến trúc: Khu Tam bảo do cây rừng rậm kín không thể phát hiện ra quy cách nền chùa. Trong khu này dân làm bãi nên mặt bằng bị xáo trộn. Chỉ còn hai khối đá lớn và hai cây cổ thụ là cây Dâu và cây Tùng. Khu giếng nước ở sườn phải núi chùa, có đường kè đá đi lại nối với khu Tam bảo. Giếng nằm ở chân khối đá lớn, trên vách phiến đá có 2 chữ Hán: “Thanh thủy” (nước trong xanh).


    Quảng bá di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm


    Khu chùa Bình Long đồi hay còn gọi là Hòn Chùa, được chuyển chùa từ núi về, hạ sơn thời Lê- Mạc. Khu này là đồi hoang, trồng cây ăn quả, chùa quay về phía sông Lục Nam. Bao quanh chùa có vành lao đất và dấu nền chùa không rõ ràng.

    Khu chùa Bình Long làng ở thôn Chùa trong khu đất đình cũ. Trong chùa có bia từ thời vua Tự Đức. Chùa này là chùa chuyển từ Hòn Chùa về làng.

    Chùa Hồ Bấc ở đỉnh núi cao xấp xỉ 800m mang tên núi chùa Hồ Bấc, thuộc dãy Huyền Đinh địa phận xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam. Chùa nằm ở thượng nguồn suối Mỡ. Dọc suối này, tính từ dưới đền Hạ lên chùa phải qua đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (thờ chúa Thượng Ngàn), khu Quần Ngựa, Ba Dinh Bảy Nền, khu đền Trần, khu thác Thùng Thùm, khu chùa Hòn Trứng, khu đình Chòi Xoan lên đến chùa. Chùa Hồ Bấc nằm trên đỉnh một ngọn núi, dựa lưng vào đỉnh núi Hồ Bấc. Chùa nhìn vào một hồ cổ lớn xấp xỉ 2 ha (hồ nay cạn nước). Hai bên chùa núi bao bọc vòng quanh. Giữa hồ có một cái giếng (nay cạn) nên gọi là Hồ Bấc. Từ chùa xuống hồ là một con đường lát các bậc đá cây cối rậm rạp, xanh tốt. Trong khu chùa chia làm hai khu: khu Tam bảo, một khu làm nhà cho tăng ni ở. Cả hai khu đều có lối ra vào hồ. Trên khu Tam bảo, còn nhiều chân tảng bằng đá và vật liệu gạch, ngói xây chùa. Năm 2011, Sở VHTTDL tỉnh Bắc Giang đã phối hợp khai quật khảo cổ học chùa này, kết quả cho biết đây là khu chùa cổ có từ thời Trần và được tu tạo lớn vào thời Lê - Mạc.

    Chùa Am Vãi ở núi Quan Âm thuộc xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn. Núi Quan Âm đối diện với núi Phật Sơn ở xã Lục Sơn. Núi chùa Am Vãi, sách "Đại Nam nhất thống chí" chép: “Núi Am Ni: Ở xã Nam Điện phía Nam huyện Lục Ngạn, mạch núi từ Phật Sơn, Thù Sơn kéo đến. Phía trái có giếng, nước trong không bao giờ cạn. Cạnh núi có hai cái bồn bằng đá, trên núi có nền chùa cũ”. Chùa này sách "Lục Nam địa chí" ghi: “Tục truyền, là nơi tu hành của công chúa nhà Trần”. Khảo sát toàn khu cho thấy cả khu chùa bao gồm các đặc điểm: Khu bàn cờ tiên với dấu chân Phật lớn, khu hang tiền, hang gạo, khu vườn tháp cổ thời Trần và khu chùa Am Vãi. Trong chùa bài trí hệ thống tượng phật, trước chùa có gác chuông, bên trái sau chùa có ba tháp đá cổ thời Trần. Trong một tháp có đặt một bài vị ghi khắc chữ Hán: “Trúc lâm viên tịch ma ha bất thường tì khưu Như Liên thiền sư hóa thân Bồ tát cẩn vi” (dịch là: vị thiền sư là Ma ha bất thường Tỳ Khưu Như Liên hóa thân là Bồ tát đã viên tịch về chốn Trúc Lâm).


    Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được vinh danh tại Thái Lan


    Chùa Đám Trì: Năm 2013, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật 5 hố, thu được nhiều hiện vật: Vật liệu xây dựng (gạch, ngói); vật liệu trang trí (lá đề, đất nung); đồ dùng sinh hoạt (gốm men, sành)... tại chùa đã phát hiện nhiều vật liệu xây dựng chùa thời Lý- Trần rất tiêu biểu cần quan tâm nghiên cứu.Theo các chuyên gia Khảo cổ học đây là loại hình di tích chùa - tháp thời Trần.

    Cùng với các khu chùa nêu trên còn một số dấu tích ở Đèo Bụt, ở Đồng Thông (xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động) ở đỉnh Yên Tử (địa phận Bắc Giang như ở chùa Kim Quy, chùa Trung, chùa Thượng giáp chùa Đồng Yên Tử và chùa Phật Quang, chùa Đồng Vành) dọc trục đường từ thị trấn Đồi Ngô vào Đồng Thông với quy mô nhỏ chỉ là nơi thờ tự với mái đá có đặt bát hương. Tại huyện Việt Yên (Bắc Giang) còn bảo lưu trung tâm Phật giáo chùa Bổ Đà là nơi lưu truyền và phát triển dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử còn nguyên vẹn hơn cả...

    Như vậy, có thể nói rằng, dọc theo dãy Tây Yên Tử từ phía chùa Đồng (Quảng Ninh) về tới Cẩm Lý (Bắc Giang) từ xa xưa có một hệ thống chùa cổ trên các ngọn núi, nay chỉ còn phế tích chưa được nghiên cứu quy mô lớn để làm rõ hơn. Tuy thế nó đã xác định rằng Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử đã phát triển mạnh mẽ, từ Sơn môn Yên Tử xuống đồng bằng và lấy trung tâm phật giáo ở Vĩnh Nghiêm làm trụ sở của giáo hội. Trong những năm qua, tỉnh Bắc Giang đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Khu Di tích – Danh thắng Tây Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang. Năm 1997 tỉnh đã tổ chức Hội thảo đánh giá về hệ thống ngôi chùa cổ trên núi Yên Tử (địa bàn tỉnh Bắc Giang), tổ chức khảo sát di tích danh thắng và kiểm kê di sản, danh thắng thuộc các khu vực trên. Chỉ đạo đầu tư kinh phí cho công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, lập hồ sơ xếp hạng một số điểm di tích, danh thắng có giá trị…



    Một góc chùa Vĩnh Nghiêm


    Đến nay, qua khảo sát bước đầu tỉnh Bắc Giang đã thống kê 135 di tích lớn nhỏ nằm trong khu vực Tây Yên Tử; lập hồ sơ đề nghị công nhận 26 điểm di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia. Tỉnh Bắc Giang đã chỉ đạo các huyện có hệ thống di tích như Yên Dũng, Lục Ngạn, Lục Nam, Sơn Động xây dựng quy hoạch: Quy hoạch khu rừng bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ huyện Lục Nam; quy hoạch khu di tích danh thắng chùa Am Vãi, Lục Ngạn; quy hoạch xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng, mở rộng khu di tích danh thắng chùa Vĩnh Nghiêm tại huyện Yên Dũng. UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch bảo tồn tổng thể di tích và danh thắng Tây Yên Tử giai đoạn 2011 – 2015. Chính phủ cũng đồng ý cho tỉnh Bắc Giang chỉ đạo hoàn tất thủ tục đầu tư thực hiện dự án xây dựng tuyến đường 293 “con đường tâm linh” nối thành phố Bắc Giang – Vĩnh Nghiêm qua địa bàn các huyện Yên Dũng, Lục Nam, Sơn Động với vùng núi Yên Tử - Đông Triều, Quảng Ninh. Đây cũng là trục đường chính trong hệ thống du lịch Tây Yên Tử trong tương lai.

    Có thể khẳng định rằng qua thời gian lịch sử, hệ thống di tích danh thắng Tây Yên Tử và Trung tâm phật giáo Vĩnh Nghiêm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đóng một vai trò quan trọng và là một phần không thể tách rời trong quần thể Di sản văn hóa và danh thắng Yên Tử gắn với Phật giáo Trúc Lâm, một dòng thiền mang đậm bản sắc Việt. Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đó trong xu thể hội nhập, phát triển là một việc làm cần thiết góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, xã hội vùng Đông Bắc của Tổ quốc.

    Trong thời gian tới việc làm sáng tỏ thêm những giá của di sản, mối liên hệ giữa hệ thống di tích, danh thắng Tây Yên Tử ở Bắc Giang với Khu di tích danh thắng Yên Tử là cần thiết, từ đó có những chương trình, liên kết phối hợp để phát huy giá trị của di sản và xây dựng thành công Hồ sơ di tích và danh thắng Yên Tử đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

    Thân Quang Huy

Share:         LinkHay.com