E-mail        Print        Font-size  
  • Tạo hình trên các sản phẩm đúc đồng Ngũ Xã


     


    Thăng Long - Hà Nội vững vàng phát triển, là nơi gìn giữ tinh hoa đất - người - nghề của mọi miền đất nước. Giữ vị thế trung tâm đất nước, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước, Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng nhiều giá trị quý báu. Giá trị ấy thể hiện ở chất thanh lịch của muôn người, ở tính độc đáo riêng có của muôn nghề… Và một trong bốn nghề nghề nổi tiếng nhất có nét độc đáo hiếm có là nghề đúc đồng Ngũ Xã. Và sự nổi tiếng ấy đã được Nguyễn Huy Lượng (một danh nhân Thăng Long) xưa ghi lại trong bài phú “Tụng Tây Hồ”, có câu: “Lửa đóm ghen Năm Xã gây lò...” có nghĩa là lò đồng Ngũ Xã đỏ lửa suốt cả đêm thâu khiến cho lũ đom đóm phải ghen tức vì chúng mất độc quyền soi sáng.

    Khi nói đến làng nghề đúc đồng Ngũ Xã chúng ta không thể không kể đến những tác phẩm nghệ thuật vô giá trong kho tàng nghệ thuật dân tộc Việt Nam như pho tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh (Hà Nội), tượng Phật A Di Đà chùa Thần Quang, tượng đức Thánh Tổ đình làng Ngũ Xã …

    Tượng Trấn Vũ - Đền Quán Thánh

    Đền Quán Thánh nằm ở góc đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) và phố Quán Thánh trông ra Hồ Tây. Đền còn được gọi là Trấn Vũ quán (quán là nơi tu luyện của các đạo sĩ) thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền được xây dựng từ thời Lý khuôn viên đền khá rộng đầu thê kỷ XX còn soi bóng xuống hồ Tây.

    “Mặt hướng Hồ Tây một quán xưa/ Ngàn năm linh tích tiếng còn đưa/ Hoa chen quanh bến sen giương kiếm/ Lá rụng vào sông trúc thủ bùa…” (Nguồn: Thơ Trần Thiện Chánh, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, NXB Khoa học xã hội, 1995)

    Trấn Vũ quán được phong làm “Bắc Kỳ đệ nhất danh thắng”, đền không chỉ nổi tiếng về kiến trúc, lịch sử lâu đời mà còn được mọi người biết đến như một bảo tàng nghệ thuật trưng bày những tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng của làng nghề đúc đồng Ngũ Xã.


    Lư hương chùa Ngũ Xã


     


    Chuông cổ Ngũ Xã






    Chiếc khánh đồng đúc năm 1794



    Một trong những pho tượng nói lên trí tuệ, tài năng, bản sắc, bí quyết, và sự sáng tạo nghệ thuật của các nghệ nhân thợ thủ công đúc đồng Ngũ Xã là tượng Huyền Thiên Trấn Vũ. Tượng đồng Trấn Vũ đồ sộ uy nghiêm mang ý nghĩa lớn lao đối với tự vệ quốc gia biểu thị sức mạnh quật cường của dân tộc ta qua các cuộc chiến tranh chống Tống, bình Chiêm, đuổi Minh ở các thế kỷ trước.

    Năm 1842, vua Thiệu Trị ban cho tượng áo lụa vàng, một đồng tiền vàng, trướng thêu đối liên và tấm biển đồng chữ bạc trên đó bài thơ ca tụng công đức của thần: “Tam hóa thần thông giáng phúc tường/ Giữ yên bờ cõi đạo càng dương/ Cứu dân từng thấy yên Tào quận/ Giúp nước nhiều phen gội gió sương/ Lui giặc hiển linh Minh Vĩnh Lạc/ Đuổi ma thuận giúp Thục An Dương/ Chính Hòa tô điểm tăng vẻ đẹp/ Sùng phụng tôn thờ giữ Bắc phương”. (Theo “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam”, Ngô Đức Thọ (chủ biên), NXB. Khoa Học Xã Hội, VN, 1991)

    Theo sử sách ghi lại lúc đầu tượng được tạc bằng gỗ, vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) đời vua Lê Hy Tông truyền sai nghệ nhân nổi tiếng bấy giờ ở làng Ngũ Xã đúc lại bằng đồng, cao 3,96m nặng 4 tấn chu vi tới 8m. Tượng tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1m50 và được đúc bằng đồng thau sau đó xử lý kĩ thuật để toàn thân trở thành màu đen như hiện tại.


    Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ


    Tượng ngồi trên bệ theo tư thế tĩnh tọa dưới hình dáng oai phong của một vị đạo sĩ giỏi giang mà dũng mãnh, tay trái bắt quyết làm ấn biểu thị sức mạnh của Đạo giáo, diệt trừ tà ma, cứu độ chúng sinh. Ấn được kết theo kiểu; ngón nhẫn và ngón giữa cong lại, ngón cái giữ ở phía bên, ngón út giữ phía trên ngón nhẫn và ngón giữa, ngón trỏ để thẳng tự nhiên, mặt bàn tay hướng ra phía trước. Bàn tay phải úp xuống đặt trên chuôi kiếm, mũi kiếm cắm thẳng trên lưng rùa. Quấn ba vòng quanh lưỡi kiếm là một con rắn đầu hướng về phía trước. Đầu tượng để trần tóc xõa hai bên. Mặt tượng vuông vức đầy sự quyết đoán và cương nghị. Hai tai to dày thùy tai dài biểu hiện một con người mạnh mẽ tràn đầy năng lượng, đôi mắt mở to nhìn thẳng đuôi mắt hướng lên trên, mũi cao thẳng chuẩn đầu và hai bên cánh mũi đều to và vuông, miệng rộng khóe miệng hướng lên trên đôi môi đầy đặn, chỏm râu dài đến ngực. Trên mình mặc hai lớp áo, bên trong là bộ áo giáp, lớp ngoài lại là bộ quần áo choàng màu đen của đạo sĩ với chiếc khăn dài, trên diềm áo hai bên trước ngực trang trí hoa văn long mã và hoa cúc, mặt hổ phù cách điệu ở đai ngọc, ở hai mảnh giáp trên đùi, giáp cổ tay, giáp ở giữa hai chân. Đôi chân trần đạp đất khí phách vững vàng hiên ngang.

    Do nhu cầu và ước vọng của cư dân trồng lúa nước tượng Trấn Vũ có thêm trách nhiệm của vị thần chống lụt và trị thủy. Tượng mang phong thái hiền hòa, gần gũi với tinh thần tạo tượng dân gian của người Việt, do thế tượng đã được tạo theo “Thánh tích” và trở thành một tác phẩm nghệ thuật có giá trị độc đáo.

    Ngoài ra trong đền còn có chiếc khánh đồng 1m10 x 1m25 (thời Tây Sơn, năm 1794 do đại đô đốc Lê Văn Ngữ quyên góp). Chính giữa đại bái là hai cây đèn đồng cao 1m7 được các nghệ nhân Ngũ Xã dâng tặng năm 1950. Trên gác tam quan còn treo quả chuông lớn cao gần 1,5 mét, đúc cùng thời gian với pho tượng 1677.

    Đền Quán Thánh là một di tích có giá trị về văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc và điêu khắc nằm bên bờ hồ Tây cùng với tiếng chuông Trấn Vũ đã hòa vào thiên nhiên, góp phần tô điểm cho cảnh đẹp cổ kính thơ mộng.

    “Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn hương/ Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”

    Tượng phật A Di Đà - Chùa Thần Quang

    Chùa Thần Quang (Thần Quang Tự) được xây dựng từ giữa thế kỷ XVIII thời hậu Lê. Xưa chùa thuộc thôn Ngũ Xã, tổng Thuận Thành, huyện Văn Thuận, thành Thăng Long, nay là phố Ngũ Xã, quận Ba Đình, Hà Nội. Ở chính điện là pho tượng Đức Phật A Di Đà1 bằng đồng lớn nhất Việt Nam, tượng được đúc từ năm 1949 - 1952, cao 3,95m; nặng khoảng 12 tấn, tọa trên tòa sen 3 tầng, 96 cánh, cao 1,45m. Đây là pho tượng đúc liền khối, một kỳ công về nghệ thuật đúc đồng của các nghệ nhân làng Ngũ Xã.

    Việc đúc tượng được tiến hành năm 1952, dưới sự chủ trì của thượng tọa Vĩnh Tường và Bác sĩ Bùi Văn Quý. Thiết kế tạo dáng, hoa văn là ông Nguyễn Văn Hiếu, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đảm nhận. Việc đúc tượng đã phải chuẩn bị trong suốt 3 năm (1949 - 1952). Từ tính toán và bản vẽ trên giấy rồi làm mẫu trên đất, làm khuôn và chuẩn bị cho khâu đúc tượng bằng đồng.

    Ngày 25/10/1952, ban chỉ đạo đã phải huy động đến 300 người tham gia hộ đám, mỗi hộ trong làng góp vài người vào việc nấu đồng và phục vụ đúc tượng. Ngày 26/10/1952 (tức ngày 8/9 năm Nhâm Thìn), nhiều người dân gần xa đã về làng Ngũ Xã để được tận mắt chứng kiến việc đúc tượng. 10 giờ sáng hôm đó, đồng được rót từ 13 nồi nấu đồng vào khuôn. Công việc tiến hành liên tục cho tới 13 giờ 10 phút. Đó là 3 tiếng đồng hồ lịch sử của người dân Ngũ Xã…

    Đây là pho tượng thể hiện trình độ kỹ thuật đúc đồng có một không hai của các nghệ nhân làng Ngũ Xã: Tượng được đúc liền khối mà rỗng, tượng được tạo hình với tiêu chí của tượng phật bao gồm 32 nét tướng tốt và 80 vẻ đẹp toàn mỹ và phi phàm của Đức Phật đã khiến cho bất cứ ai khi vừa nhìn thấy bức tượng đều sinh lòng kính tín tâm hoan hỷ thanh tịnh lạ thường.

    Tượng thể hiện tư thế Đức Phật đang ngồi kiết già, tay kiết định ấn với dáng ngồi thanh thoát, an nhiên tự tại như nổi bổng trên đài sen 3 tầng. Sự thay đổi không gian hài hòa trên một tổng thể trang trí, tạo hình cân đối tạo ra một vẻ đẹp thuần khiết, tĩnh lặng vô biên huyền bí nhưng gần gũi của Phật pháp. Tóc của Đức Phật kết thành nhiều cụm xoắn ốc bao kín cả đầu, với vầng trán rộng bằng phẳng nêu bật khả năng trí tuệ cao viễn. Mắt khép hờ nhìn xuống hội vào đỉnh mũi để tập trung tư tưởng, trí lực nhằm soi rọi nội tâm, hố mắt sâu, lông mày dài lớn và cong tạo nên vẻ đẹp thánh thiện. Đầu lông mày hướng chảy vào sống mũi, đuôi lông mày dài quá mắt biểu hiện sự trọn vẹn không vướng mắc với cuộc đời. Mũi thẳng dọc đầy đặn cân phân, cánh mũi, lỗ mũi tròn vừa phải biểu hiện sự chính trực, thẳng thắn Miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ.


    Tượng Phật A Di Đà chùa Thần Quang


    Hai đỉnh tai lớn cao hơn lông mày, tai dày có thành, thùy tai thấp ngang miệng đã diễn tả sự thông tuệ, cao viễn, tâm đại từ bi. Nét mặt cân đối thể hiện nội tâm sâu lắng, thoát tục mang nhiều nét đẹp giới tính hiền dịu, đầy vẻ từ tâm, trang nghiêm mà đôn hậu của Đức Vô lượng quang Phật, Vô lượng thọ Phật. Tượng Đức Phật A Di Đà có nguồn gốc Ấn Độ nhưng đã được chuyển hóa có nét đẹp của bản địa, đồng thời có ảnh hưởng của tượng Phật đời Đường. Ngực nở có chữ “Vạn”2 biểu thị công đức vô lượng của phật, bụng thon, ngón tay ngón chân thon dài. Những nếp áo diễn tả nếp vải mỏng, buông chùng có chỗ buông lơi uốn lượn từng nếp nhịp điệu, chỗ bám sát nhục thể biểu hiện đã ở cõi niết Bàn, xa lìa trần tục, hướng tới thiện căn. Tất cả những ý nghĩa trên đã được các nghệ nhân ngũ xã miêu tả đạt đến trình độ tinh hoa bậc nhất của kỹ thuật tạo tượng.

    Ngoài ra trong chùa còn có một quả chuông cổ được đúc từ thời hậu Lê và toàn bộ đồ thờ cúng như lư hương, chân nến… đều được đúc bởi bàn tay tài hoa của nghệ nhân làng Ngũ Xã. Bên dãy phố cổ, chùa Ngũ Xã thật nguy nga tráng lệ. Trong chùa, pho tượng đồng rực rỡ ánh đèn, sực nức khói hương vẫn đẹp và sâu lắng, kết tinh trí tuệ và tài năng của thợ đúc Ngũ Xã một thời hoàng kim xưa.

    Ngày 21-06-1993, chùa Thần Quang đón nhận quyết định của Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá đã xếp hạng. Đây là phần thưởng cao quý, động viên dân làng đúc đồng truyền thống, và nghề quý của tổ tiên truyền lại. Ngôi chùa vừa là nơi thờ cúng tôn nghiêm, nơi sinh hoạt tinh thần của nhân dân địa phương, vừa là khu bảo tàng một làng nghề đúc đồng lớn nhất nước ta.

    Tượng Thánh tổ - Đình Ngũ Xã

    Đình Ngũ Xã ở hướng chính Bắc nằm trên khu đất của hai phố Nguyễn Khắc Hiếu và Mạc Đĩnh Chi, phố Ngũ Xã, Ba Đình, Hà Nội. Đình Ngũ Xã thờ Nguyễn Chí Thành (1066 -1141). Ông tu đạo phật lấy hiệu là Minh Không Thiền Sư. Năm 1136, ông có công chữa khỏi bệnh cho vua nhà Lý nên được phong là Lý Quốc Sư. Ông giỏi nghề thuốc lại tài nghề đúc đồng nên làng tôn là Thành hoàng và coi ông là tổ nghề đúc đồng, đặt tượng thờ tại đình làng. Ông là người đúc tượng phật chùa Quỳnh Lâm; đúc đỉnh đồng trên tháp Báo Thiên góp phần tạo nên An Nam tứ đại khí là những báu vật nổi tiếng của nước Đại Việt thời Lý - Trần. Ông là người sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa của văn minh Đông Sơn – văn minh người Việt cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng.

    Năm 1993, cụm di tích đình Ngũ Xã, chùa Thần Quang được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Đình Ngũ Xã có diện tích nhỏ, cấu trúc cân đối đơn giản, khoảng sân sạch sẽ với những cây cổ thụ hàng trăm tuổi đã tạo nên dáng vẻ trang nghiệm trầm mặc.

    Thời gian đầu, tượng Thánh tổ trong đình Ngũ Xã được làm bằng gỗ để thờ nhưng sau đó các nghệ nhân Ngũ Xã cho rằng tượng thờ Thánh tổ của nghề đúc đồng nên được đúc bằng đồng vì nguyên liệu đồng có tuổi thọ cao, giá trị tạo hình và màu sắc phù hợp với vị thế của một ông tổ làng nghề đúc đồng. Sau khi làm lễ và được phép của Đức Thánh tổ, bằng tâm huyết và lòng tôn kính, nghệ nhân Ngô Thị Đan đã đúc thành công pho tượng tổ của làng chỉ trong một mẻ đồng là xong trước sự chứng kiến của toàn bộ dân làng Ngũ Xã.



    Tượng Thánh tổ trong đình làng Ngũ Xã

    Tượng Thánh Tổ được đặt trong cung cấm, nơi đây không ai được phép viếng thăm. Chỉ có ông Nguyễn Ngọc Yến năm nay đã 85 tuổi nhà ở số 28 phố Nguyễn Khắc Hiếu (trưởng ban quản lý kiêm việc trông coi đình hàng ngày). Toàn bộ đồ thờ cúng trong đình như chân nến, lư hương, chuông đồng… đều là sản phẩm do nghệ nhân Ngũ Xã đúc. Pho tượng đức Thánh Tổ trong cung cấm cao 1,3m nặng 250kg cả ngai, đầu đội mũ vải, mặc áo cà sa, tay tượng Thánh Tổ cầm chiếc túi càn khôn. Nét mặt của tượng Thánh tổ hiền từ, phúc hậu, vành tai dày và thùy tai dài ngang miệng, dáng ngồi ung dung tự tại. Tượng là tác phẩm nghệ thuật tạo hình độc đáo, biểu thị lòng kính ngưỡng của người dân Ngũ Xã đối với ông tổ Nghề. Hàng năm, cứ vào ngày hội làng dân làng lại tụ tập đông đủ quanh đình để tổ chức thi đấu trò chơi: cờ người, chọi gà, thi hát chèo, hát cô đầu… để chọn ra những đội giỏi nhất vào chung kết. Sáng sớm, đội tế nam của làng mặc áo the khăn xếp, chuẩn bị đồ tế lễ, dâng rượu dâng hoa lên đức Thánh Tổ. Đội tế phải là nam bởi ông Tổ nghề đúc là nhà sư, cho nên phụ nữ không được phép tham gia vào đội tế và cũng không được phép vào trong đình.

    Tượng Thánh Tổ được đặt trong cung cấm, nơi đây không ai được phép viếng thăm. Chỉ có ông Nguyễn Ngọc Yến năm nay đã 85 tuổi nhà ở số 28 phố Nguyễn Khắc Hiếu (trưởng ban quản lý kiêm việc trông coi đình hàng ngày). Toàn bộ đồ thờ cúng trong đình như chân nến, lư hương, chuông đồng… đều là sản phẩm do nghệ nhân Ngũ Xã đúc. Pho tượng đức Thánh Tổ trong cung cấm cao 1,3m nặng 250kg cả ngai, đầu đội mũ vải, mặc áo cà sa, tay tượng Thánh Tổ cầm chiếc túi càn khôn. Nét mặt của tượng Thánh tổ hiền từ, phúc hậu, vành tai dày và thùy tai dài ngang miệng, dáng ngồi ung dung tự tại. Tượng là tác phẩm nghệ thuật tạo hình độc đáo, biểu thị lòng kính ngưỡng của người dân Ngũ Xã đối với ông tổ Nghề. Hàng năm, cứ vào ngày hội làng dân làng lại tụ tập đông đủ quanh đình để tổ chức thi đấu trò chơi: cờ người, chọi gà, thi hát chèo, hát cô đầu… để chọn ra những đội giỏi nhất vào chung kết. Sáng sớm, đội tế nam của làng mặc áo the khăn xếp, chuẩn bị đồ tế lễ, dâng rượu dâng hoa lên đức Thánh Tổ. Đội tế phải là nam bởi ông Tổ nghề đúc là nhà sư, cho nên phụ nữ không được phép tham gia vào đội tế và cũng không được phép vào trong đình. Đội tế cùng đông đảo nhân dân rước lễ quanh làng, sang chùa Thần Quang xin sớ và rước về đình làng Ngũ Xã. Đội tế của làng tiến hành dâng lễ, đọc bài cúng khấn thỉnh đức Thánh tổ phù hộ độ trì cho dân làng được an lành, cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân dân an cư lập nghiệp… Toàn bộ dân làng chuẩn bị hương hoa, mâm xôi, con gà dâng lên đức Thánh Tổ và ra sân đình dự hội. Các vị bô lão trong làng báo cáo tình hình của làng trong một năm vừa qua, những thành tích đạt được và điểm cần khắc phục trong năm tới. Các cụ kể lại cho con cháu trong làng về ông tổ nghề đúc đồng, về những truyền thống tốt đẹp mà lớp con lớp cháu cần học tập và gìn giữ.

    Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội là mảnh đất thiêng ngàn năm văn vật, nơi hội tụ, kết tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc. Trải qua 1.000 năm hình thành và phát triển, nơi đây, đã và đang lưu giữ những giá trị truyền thống, những di sản quý báu của dân tộc với hàng loạt các tuyệt tác nghệ thuật với giá trị văn hóa vô giá và độc đáo. Việc gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật đồng đúc nguyên khối của nghệ nhân Ngũ Xã sẽ giúp cho thế hệ mai sau hiểu được các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tâm linh của cha ông ta để lại. Trải qua các thời kỳ lịch sử đất và người Thăng Long đã chứng kiến bao thăng trầm, thịnh suy, thay đổi của đất nước nhưng “những giá trị nghệ thuật ấy” vẫn trường tồn cùng thời gian, trở thành niềm tự hào của Thăng Long xưa - Hà Nội nay.

    Nguyễn Đức Tuấn

    (*) Tài liệu tham khảo:

    1. http://phatgiao.org.vn/chua-viet/201302/Chua-Than-Quang-Tuyet-tac-nghe-thuat-duc-dong-9787

    2. http://thegioidisan.vn/vi/tuong-huyen-thien-tran-vu-ha-noi.html

Share:         LinkHay.com