E-mail        Print        Font-size  
  • ĐI HÀI ĐẤU VẬT THỰC TẠI VÀ MONG ƯỚC

    Đấu vật. Tranh dân gian Đông Hồ



    Trong những bức tranh Tết của dòng tranh Đông Hồ, bức tranh đấu vật gợi cho chúng ta nhớ đến những hội làng tưng bừng náo nức trước sân đình ngày xuân. Đấu vật là một trò chơi được người Việt yêu thích. Bức tranh là một hiện thực gần gũi, giản dị. Nhưng với quan niệm bức tranh là văn bản được mã hóa, cho nên dẫu là tranh dân gian được bán cho người dân quê chất phác, bức tranh cũng có những tín hiệu cần được giải mã. Xem bức tranh đấu vật này, có một hiện tượng bất thường là sự xuất hiện của những chiếc hài. Đây là một chi tiết cũng không có gì kỳ là, cổ quái, nhưng đó là một chi tiết phi hiện thực trong bức tranh này. Tranh đấu vật nhiều không kể xiết nhưng trong lịch sử mỹ thuật kể từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, duy chỉ có tranh Đông Hồ của Việt Nam là có các đô vật đi giày.

    Nếu xem lại các tư liệu thời Pháp thuộc chụp các cảnh sinh hoạt thường nhật ở các làng quê cho đến chốn thị thành, hình ảnh người Việt chân trần rất phổ biến. Đây là một lề thói, tập tục khá cổ xưa của người Việt1. Trong con mắt của người nước ngoài, dù đó là người Hoa, người Cao Ly hay Tây dương, đi đất dường như là một đặc trưng của người Việt. Từ sách “Lĩnh ngoại đại đáp” (Nam Tống - Chu Khứ Phi), “Thanh triều văn hiến thông khảo” (Thanh), “Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam”… đều có nhắc đến việc đi đất của người Việt2 . Cho nên ngay cả khi đi sứ sang phương Bắc, thói quen đi chân trần cũng không hề bỏ. Lý Quang Toái, một sứ thần Triều Tiên đã mô tả phục trang của đoàn sứ thần Đại Việt trong đó có đoạn: “cả đoàn hai mươi ba người đều xõa tóc. Người cao sang thì sơn răng, kẻ hại tiện thì mặc áo ngắn đi đất, dù vào mùa Đông vẫn đi đất, vẫn xỏ tất dài. Chừng phong tục của họ là như vậy.” Nhưng không chỉ là phong tục, mà ở một mức độ nào đó nó còn được luật hóa như quy định thời Lê Trung Hưng khi vào sân thiết triều, các quan buộc phải đi chân đất. Bức tranh vẽ cảnh thiết triều thời vua Lê Hy Tông của S.Baron (1683) thì từ lính tới quan đều đi chân đất. Dù cho Hà Nội có một phố Hài tượng thì có lẽ đó cũng là thứ chỉ dành cho một thiểu số tầng lớp trên. Và ngay cả tầng lớp trên, không phải lúc nào cũng đi giày dép. Bức vẽ này của S.Baron đã phản ánh một nét văn hóa truyền thống của người Việt – một yếu số Sắc tộc (Ethnicity)3 khá đậm nét.


    Tranh võ sĩ Sumo của Hokusai

    Trở lại với bức tranh Đấu vật của làng tranh Đông Hồ. Đấu vật là hoạt động cơ bắp, phô diễn sức mạnh, dù nó có chút ít tính biểu diễn, thì đến nay cũng không thấy ở đâu các đô vật đi giày. Ngoài tranh dân gian Đông Hồ, trên các mảng chạm khắc ở đình làng Bắc Bộ thế kỷ XVI-XVIII, ta thấy vô số cảnh đấu vật. Nhưng không bao giờ ta thấy các đô vật mang giày. Có lẽ tương đương, hoặc muộn hơn một chút với các bức chạm ở đình Liên Hiệp, Đại Phùng, Hương Canh, Phù Lão, Phong Cốc... của Việt Nam, là các bức tranh khắc gỗ Nhật Bản. Danh họa Hokusai có những bức vẽ rất sinh động hình các đô vật mình trần lực lưỡng, cơ bắp cuồn cuộn. Nếu đem so với bức tranh đấu vật Đông Hồ, ta thấy cảnh đấu vật của chúng ta không mấy căng thẳng, từ dung mạo, cho đến cơ bắp của các đô cũng có phần khoan hòa. Càng ngắm bức tranh, ta càng có cảm giác đang diễn, đang khoe cái dáng vẻ béo tốt của mình.

    Những đôi giày xuất hiện trong các hoạt cảnh đấu vật lại càng khiến cho tính chất ước lệ, tượng trưng của bức tranh. Đây không phải lần duy nhất sự hiện diện của những chiếc giày xuất hiện có phần phi lý. Ví dụ như ở bức tranh Kéo co, cả hai đội đều mình trần đóng khố nhưng lại đi hài, hay ở bức tranh Hứng dừa, hai bố mẹ đi chân đất rất thực, nhưng đứa trẻ lại đi hài leo cây. Tình cảnh ấy cũng rất giống bức tranh Đánh ghen, nhưng người chồng và hai bà vợ đều để chân trần, duy có đứa trẻ thì lại được đi hài.

    Trong các nghiên cứu của các bậc tiền bối, bức tranh Đấu vật cũng đã được ít nhiều điểm qua trong một số công trình như: “Tranh Dân gian Việt Nam” (Nguyễn Bá Vân, Chu Quang Trứ), “Tranh dân gian Đông Hồ” (Nguyễn Thái Lai)... Nhưng chưa ai để tâm nghiên cứu tác phẩm này. Và có lẽ lần đầu tiên, tác phẩm này bước đầu được tiếp cận từ góc độ Biểu tượng học4. Vậy thì những đô vật béo núc đi hài nói lên điều gì? Nếu như không phải là ước vọng về Sức khỏe và Sung túc. Bức tranh Đấu vật quả là phi lý nếu nhìn ở góc độ hiện thực duy lý nhưng lại đầy ăm ắp những ước vọng ngày Xuân. Bức tranh thay cho những lời chúc tốt đẹp nhất khi Xuân sang Tết đến bên chồng bánh trưng xanh, câu đối đỏ.

    Chú thích:

    1. Noi gương nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, đám hậu sinh chúng tôi cũng ước ao được viết một cuốn sách chuyên khảo về Văn minh giày dép của người Việt.

    2. Nguồn: sách Ngàn năm áo mũ – Trần Quang Đức.

    3. Ethnicity: Tính sắc tộc. Thuật ngữ văn hóa nói đến sự hình thành ranh giới giữa những nhóm người được xây dựng về mặt diễn ngôn như những nhóm người cùng chia sẻ các giá trị, chuẩn mực, thực hành, biểu tượng và đồ tạo tác. Họ được nhìn nhận như vậy bởi chính bản thân họ và những người khác. Khái niệm sắc tộc gắn bó chặt chẽ với khái niệm chủng tộc.( Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Chris Barker (2011), Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành, Nxb Văn hóa thông tin, Ths. Đặng Tuyết Anh dịch, TS. Nguyễn Thị Hiền, TS. Đoàn Thị Tuyến hiệu đính, tr.654)

    4. Turner giải thích thuật ngữ biểu tượng học (symbology) là nghiên cứu và diễn giả các biểu tượng (the study or interpretation of symbols) – Đinh Hồng Hải (2014), Nghiên cứu biểu tượng: Một số hướng tiếp cận lý thuyết, Nxb Thế giới, tr.51.


    Trần Hậu Yên Thế

Share:         LinkHay.com