E-mail        Print        Font-size  
  • Sơn mài truyền thống, sơn công nghiệp trên các sản phẩm trang trí ứng dụng hiện nay

    Bộ hộp sơn mài chất liệu sơn Nhật (Cốt Composite, vóc sơn điều). Bài tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hoàng Nhi, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, 2016.


    Từ chức năng trang trí đình chùa, chất sơn ta được nâng cao vị thế, trở thành chất liệu của nghệ thuật hội họa, đồng thời, đáp ứng nhu cầu trang trí trên sản phẩm ứng dụng. Sơn mài vẫn giữ vai trò như vậy cho đến ngày hôm nay. Nghệ thuật sơn mài Việt Nam phát triển trên cơ sở nghề sơn quang dầu cổ truyền và được ứng dụng rộng rãi vào các đồ trang trí như hoành phi, câu đối, cửa võng. Chất sơn vừa làm tăng thêm độ bền đồ vật, vừa mang ý nghĩa trang trí trong nội thất.

    Sơn quang dầu chỉ đơn thuần là loại dầu bóng. Với việc thay thế dầu trẩu bằng nhựa thông, các họa sĩ tiên phong đã làm cho chất sơn khô giòn và có thể mài được. Sơn mài truyền thống Việt Nam đã xuất hiện trong cả hai lĩnh vực: tranh hội họa, tranh trang trí và đồ vật sơn mài. Hai chức năng này song hành phát triển để hình thành hai khuynh hướng: mỹ thuật và mỹ nghệ. Sản phẩm sơn được dùng rộng rãi trong cuộc sống, xuất phát từ mục tiêu và chức năng xã hội, nhu cầu trang trí và sử dụng trong đời sống.

    Sản phẩm sơn mài trang trí đã qua một quá trình sản xuất và xuất khẩu, có lúc, sản phẩm sơn ta khá phong phú, nổi bật và là một trong những mặt hàng đa chủng loại và có giá trị, đem lại lợi nhuận kinh tế xã hội. Từ sau những năm 1980, các đơn hàng sản xuất sơn mài với chất liệu sơn ta được đặt hàng khối Đông Âu và các nước Xã hội chủ nghĩa không còn. Cùng đó là sự cạnh tranh trong thị trường với các loại sơn Nhật, sơn điều nên việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sơn truyền thống dần vắng bóng. Sau đó, các làng nghề truyền thống không làm sơn ta nữa, chuyển sang sơn Nhật, sơn điều, sơn PU để xuất khẩu. Với chức năng là sản phẩm ứng dụng, trước kia sơn ta chỉ hoàn toàn dừng lại ở đồ mỹ nghệ, góp vai trò chủ đạo trang trí trong nội thất đình, chùa. Nhìn nhận về sản phẩm sơn mài Việt Nam, có thể nói, chưa phát triển trên đỉnh cao về tạo dáng, màu sắc và chất liệu như tranh sơn mài hội họa. Hội họa sơn mài được trao tay những họa sĩ bậc thầy để đạt tới tầm cao của chất liệu và thành công ở những năm 1955 - 1968, rồi cả sau những năm 1970, 1980 và cho đến hiện tại. Sản phẩm sơn mài ứng dụng thì có nhiều trắc trở hơn, có thể chưa tìm được lối đi riêng hay một phong cách đặc trưng rõ rệt. Nhật Bản và Hàn Quốc cũng sử dụng chất liệu sơn và họ đã thành công ở các đồ trang trí từ rất nhiều năm trước đây và cho đến hiện tại.


    Bộ hộp sơn mài chất liệu sơn Nhật (Cốt Composite, vóc sơn điều). Bài tốt nghiệp của sinh viên Cao Văn Vũ, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, 2016.

    Với chất liệu sơn mới, người sản xuất dựa trên kỹ thuật phun màu với độ phẳng và bóng, kết hợp một vài nguyên liệu truyền thống như vỏ trai, ốc, trứng, thếp bạc mà cho ra các dòng sản phẩm đa dạng như lọ, hộp, khay, tráp quả. Trên bề mặt cốt vóc, không còn là chất liệu sơn ta Phú Thọ vẽ nhiều lớp, mài phẳng, đi nét mềm mại mà thay thế là sơn công nghiệp hay còn gọi là sơn phun PU. Cốt vóc ở đây là chất liệu composite, cốt gốm, xuất hiện từ sau những năm 1990 thay vì cốt gỗ, giấy bồi, vải bồi truyền thống. Cốt gốm, cốt composite đã làm thay đổi tạo dáng khá nhiều trong các khối mang tính vận động, ngoài những hình khối cơ bản. Các hình thức tạo dáng nhiều đường cong, không gian lồi lõm cần được tạo khuôn từ chất liệu gốm hoặc composite để giúp đáp ứng được với các thiết kế phức tạp.

    Xét lại quá trình biến đổi của sơn mài, cần tìm hiểu sự thay đổi xem nước sơn trên bề mặt thay đổi trước hay cốt thay đổi trước? Theo chúng tôi, cốt vóc thì là sự thay đổi ban đầu làm nên biến đổi của bề mặt. Khi cốt gỗ không còn đáp ứng được nhu cầu về thời gian và với mục tiêu để giảm giá thành cũng như vấn đề lớn hơn là tạo dáng mới lạ, hấp dẫn, kết cấu phức tạp thì cốt gỗ sơn mài không còn tồn tại để nhường chỗ cho chất liệu làm cốt mới khác (từ năm 1990) là cốt composite do trung tâm Polyme, trường Đại học Bách khoa thử nghiệm thành công chất liệu này.

    Cốt vóc composite và sơn làm vóc là sơn điều, thay vì cốt gỗ cổ truyền và sơn ta dùng làm vóc, là hai mặt đối lập để phân biệt giữa cách làm mới và cách làm truyền thống. Kỹ thuật sơn mới đã bớt đi nhiều công đoạn so với kỹ thuật sơn ta. Khi làm cốt vóc, họ bỏ bớt phần bọc vải màn, khâu hom, bó cũng hạn chế và làm các lớp mỏng hơn. Công đoạn sơn cũng lược bớt để giảm giá thành.

    Sơn điều xuất hiện từ sau năm 1975, khi hòa bình lập lại và nhập từ miền Nam, được điều chế từ vỏ hạt điều. Sơn điều có đủ thành phần hóa học, tính chất vật lý để điều chế thành sơn công nghiệp, thích hợp và dễ sử dụng với độ cứng và khô nhanh trong mọi thời tiết, không bị những hạn chế như sơn ta.


    Lọ trang trí sơn mài chất liệu sơn ta Phú Thọ (cốt tre cuốn, vóc sơn ta).
    Tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Ngọc Anh tại triển lãm "Nhóm 12" tại Nhà Triển lãm Mỹ thuật 16 Ngô Quyền, 2013.

    Như vậy, sự có mặt của hai loại sơn Nhật và sơn điều đã dần đẩy sơn ta Phú Thọ xa dần với xuất khẩu và đặt dấu kết thúc sản xuất sơn truyền thống từ sau những năm 1990. Đó cũng là lúc các hợp tác xã sơn mài của nhà nước hay của cấp làng, xã, huyện dần thay đổi cơ cấu và chuyển đổi thành những hộ sản xuất cá thể (ở nông thôn) và các công ty trách nhiệm hữu hạn (từ công ty của nhà nước). Họ phải tự đầu tư nguồn vốn, tự tìm khách hàng để quảng bá và xuất khẩu sản phẩm. Điều này cũng góp phần vào sự biến đổi của truyền thống trong sự biến đổi của cơ chế thị trường.

    Cho đến nay, công nghệ sơn phun màu trực tiếp lên cốt sản phẩm là dùng sơn PU, phun bóng bằng sơn Toa, gắn trứng bằng keo Epoxy đã làm cho nhiều người lầm tưởng các sản phẩm sơn đó là sơn mài truyền thống, điều này khiến khách hàng trên thị trường nước ngoài hay kể cả người Việt coi sơn mài là một địa hạt rộng rãi và dùng cách gọi “sơn mài truyền thống” cho tất cả những sản phẩm sơn được xuất khẩu nói chung. Những năm 1990 còn xuất hiện tên gọi “Áo dài sơn mài”, thật khó có thể hiểu được tại sao từ ghép “sơn mài” lại có thể dùng với chất liệu vải mềm mại cùng với tà áo dài thướt tha là vậy. Điều này có lẽ chỉ có họa sĩ và người làm sơn mới thấy hết nghĩa phi thực tế của nó.Và ta hiểu áo dài sơn mài là khi có thể vẽ lên tà áo dài bằng chất liệu màu acrylic, với các họa tiết hoa lá và các hình kỷ hà, thay thế cho việc thêu tay hay dùng vải in hoa như trước. Sự kiện này nhắc nhở chúng ta một lần nữa cần xem xét kỹ về thuật ngữ sơn mài mới và sơn mài truyền thống để công chúng và xã hội coi trọng và đánh giá đúng tính chất của nó.

    Trở lại với thuật ngữ “sơn mài truyền thống” và “sơn mài công nghiệp”, cũng có thể gọi chung là “sơn mài mới” và “sơn ta truyền thống” để thấy rõ sự khác biệt trong các nguyên liệu sử dụng cơ bản. Sơn ta Phú Thọ, chất sơn được điều chế từ cây sơn tại chính vùng đồi trung du miền Bắc đã cho ra một sản lượng sơn tuy không nhiều và chưa được nhà nước đầu tư nhưng cũng đủ cung cấp cho các họa sĩ đã và đang vẽ, sáng tác bằng chất liệu truyền thống. Sơn ta Phú Thọ, với vàng, bạc cựu, màu son điều chế từ đá thần sa, chu sa, dùng kỹ thuật mài phẳng, vẽ nhiều lớp màu và đánh bóng sản phẩm bằng tay và tóc rối, than… đó là những yếu tố cơ bản để nói lên một sản phẩm sơn mài truyền thống. Sự thay đổi với cách dùng sơn công nghiệp, chủ yếu là sơn PU, phun màu lên sản phẩm, dùng bạc thiếc, vàng miếng kim loại, không vẽ nhiều lớp, ít công đoạn mài phẳng, phun bóng bằng sơn PU, dùng keo để gắn vỏ trai, ốc... chính là một trong những thành tố chủ đạo của cách làm sơn mới, khác rất nhiều so với sơn truyền thống.


    Sản phẩm chất liệu sơn điều trưng bày tại triển lãm "Hội chợ quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2016"

    Về mặt nghệ thuật mà nói, sơn điều và sơn Nhật không có độ sâu, trong như sơn ta khi phủ trên bề mặt sản phẩm, độ bền không cao như sơn ta, nhưng lại đạt tiêu chí về độ cứng và giá thành sản phẩm đáp ứng được với sản xuất và thời gian yêu cầu của các hợp đồng sản xuất. Nền công nghiệp phát triển, đòi hỏi những sản phẩm tương ứng nên sẽ có những sản phẩm phù hợp với sản xuất công nghiệp, đó là điều phù hợp với quá trình phát triển của lịch sử. Việc sử dụng hai loại sơn Điều và sơn Nhật cũng phù hợp với quy luật phát triển của sản xuất và tạo nên hướng rộng mở hơn cho sản phẩm sơn ta từ lâu nay không còn thấy trên thị trường xuất khẩu. Sơn mài truyền thống không còn là chất liệu được các làng nghề hay công ty xuất khẩu sơn mài sử dụng, chỉ còn các họa sĩ sáng tác và có những tác phẩm độc lập khi tham dự các triển lãm mỹ thuật ứng dụng trong nước hoặc các triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức hàng năm. Như vậy, cũng cần thay đổi quan niệm để phân biệt sơn truyền thống và nên gọi là “sơn mới” thay vì nhiều ý kiến trái chiều gọi là “sơn mài dởm” như hiện nay.

    Mỗi một chất liệu đều đóng vai trò mới và hội tụ đủ tính chất để đặt tên cho mỗi dòng sản phẩm riêng, ví dụ như sơn Phú Thọ, sơn Điều, sơn Công nghiệp, sơn PU. Đây là một cách đặt tên khá chuẩn mực với cách gọi đúng bằng chính chất liệu mà người ta chọn dùng trên mỗi cốt vóc sơn mài. Nếu làm sơn Nhật trên cốt gốm thì gọi là sản phẩm sơn Nhật trên cốt gốm, với sơn điều thì gọi là sản phẩm sơn điều, ngoài ra còn có sơn PU lên cốt composite như chúng ta phân biệt sơn dầu hay acrylic, màu bột và thuốc nước, khi hiệu quả có những sự giống và khác nhau.

    Và như vậy, dòng sản phẩm sơn ta, sơn điều, sơn Nhật mới có cách nhìn khác, khách quan, rộng mở hơn để mặc một áo khoác mới trên một thị trường sản xuất rộng rãi để đáp ứng nhu cầu đa dạng cuộc sống. Sản phẩm sơn công nghiệp theo nghĩa rộng bao hàm các sản phẩm được sản xuất và xuất khẩu tại các làng nghề, đặc biệt là Hạ Thái và trên thị trường hiện nay. Như vậy, từ một sản phẩm sơn, ta phải phân biệt rõ nó thuộc dòng sơn nào như sơn Nhật, sơn điều, để đánh giá hiệu quả thẩm mỹ cùng giá trị, độ bền của sản phẩm. Sản phẩm sơn mài truyền thống, những khoảng thời gian đã qua cho rất nhiều tiếc nuối vì vẻ đẹp và giá trị của nó chưa được khẳng định, chưa nâng tầm tinh xảo và điêu luyện về kỹ thuật để đạt tới một thương hiệu mang tầm thời đại. Bên cạnh đó, các sản phẩm sơn công nghiệp đã làm thay đổi quan niệm và cách nhìn với sự thực dụng hơn nhiều, yếu tố nghệ thuật giảm để yếu tố ứng dụng đẩy lên cao hơn. Đó là một ngã rẽ cho hàng thủ công xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, khó hơn cả vẫn cần nâng cao giá trị sản phẩm sơn hiện nay với các yếu tố trang trí đẹp, hiện đại, với tạo dáng phong phú, không quá phụ thuộc vào các thiết kế của nước ngoài, để sản phẩm sơn mài Việt Nam có tiếng nói riêng và có giá trị thẩm mỹ độc đáo.



    Sản phẩm chất liệu sơn công nghiệp trưng bày tại triển lãm "Hội chợ quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2016"

    Làng nghề Hạ Thái và các làng nghề khác cần có sự kết nối với trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và các trung tâm đào tạo để có những thiết kế sơn mài hiện đại, đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Điều kiện sản xuất luôn biến động khiến người nghiên cứu luôn phải cập nhật và theo sát đầu ra cũng như mẫu mã, kết nối giữa làng nghề với họa sĩ thiết kế sản phẩm để có những sáng tác mẫu mới phù hợp với thẩm mỹ và nhu cầu tiêu dùng.

    Ở đây, chúng tôi cung cấp một số bài tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp với thiết kế sản phẩm sơn mài ứng dụng, từ tạo dáng, trang trí và sự kết hợp với làng nghề trong khâu làm cốt vóc. Họa sĩ Mỹ thuật công nghiệp cần có nhiều trải nghiệm, khả năng đi sâu phân tích, tìm hiểu thị trường, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng, kết hợp với tư duy nghệ thuật, khả năng quan sát và dự báo trên những kinh nghiệm thực tế. Đó là một trong những điều kiện cơ bản cần hội tụ ở những nhà thiết kế để thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật sử dụng chất liệu sơn mài. Sơn truyền thống và sơn mài mới, cùng với sự thay đổi về kỹ thuật, nguồn nguyên vật liệu và công nghệ cùng với việc nâng cao những tiêu chí về thẩm mỹ trong tạo dáng, hình khối, họa tiết, hoa văn trang trí, màu sắc… là sự cần thiết để tạo nên một sản phẩm sơn mài có giá trị, dù được làm từ sơn ta truyền thống hay sơn công nghiệp. Nếu được ứng dụng những kỹ thuật truyền thống như dán bạc, đi nét, tạo chất bằng sự đối lập giữa chất trong và chất đục, gắn trứng tạo hiệu quả tinh tế, màu sắc không quá bó hẹp, cũng không quá sặc sỡ, thì các sản phẩm được gọi chung là sơn mài hiện nay sẽ mang nhiều yếu tố nghệ thuật hơn. Đặc biệt, với những tạo dáng tinh tế, tỷ lệ hài hòa sẽ tạo cho sản phẩm sơn mài công nghiệp hiện nay có sự mềm mại, không bị khuôn ép, bớt đi độ cứng trong việc sử dụng nhiều màu sắc đơn thuần như trắng, đỏ, vàng, đen và sự đồng điệu về kỹ thuật hay họa tiết trang trí. Rất cần có nhiều nguồn lực cùng với sự đầu tư và sự chung tay của người sản xuất, nhà thiết kế, người hiểu biết kỹ thuật sơn mài truyền thống để trao đổi, học tập và rút ra những ý kiến để cùng phát triển một chất liệu vốn đã mang giá trị truyền thống và góp mặt, đồng hành cùng cuộc sống của người Việt một khoảng thời gian dài đã qua.

    Nguyễn Thanh Giang

Share:         LinkHay.com