E-mail        Print        Font-size  
  • SO SÁNH VÀ GIẢI MÃ HOA VĂN KHẮC VẠCH TRÊN MỘT NỒI GỐM CỔ (PHẦN II)

    Gốm Ai Cập cổ đại có niên đại TK VIII tr.CN




    Phần 2

    Có một điều nữa mà tôi cho là thú vị nữa là hai cặp đường gờ đắp nổi song song với nhau đặt ở hai vị trí được coi là kết thúc của tầng hoa văn giữa với tầng hoa văn cuối và cũng đánh dấu sự kết thúc của tầng hoa văn trên cùng. Tôi cứ giả định những đường đắp nổi là biểu tượng cho giới hạn của từng thế giới. Quay trở lại với nghiên cứu của hai ông Trân Từ và Bạch Đình, khi hai ông cố gắng tìm hiểu rõ hơn tư duy cổ truyền của người Mường, phản ánh vũ trụ quan tôn giáo của họ và để trả lời câu hỏi: vua Trời có chết hay không? Ai cũng khẳng định rằng các vị ấy không thể chết. Như vậy thời gian ở đây là vô tận, nhưng không gian ở đây là hữu hạn. Hai ông dẫn chứng câu trả lời của một bố Mo ở mường Động (thuộc huyện Kim Bôi, Hoà Bình) rằng: "Mường Trời cũng có chỗ cùng". Đó là nơi tận cùng của mường Trời, nơi cao nhất trong hệ thống dọc của vũ trụ. Phải chăng, cái giới hạn được đắp nổi kia ở chiếc nồi nhằm giới hạn cái tận cùng, nơi cao nhất trong không gian của mường Trời. Vậy chỗ thấp nhất của mường Trời, nơi tiếp giáp với mường Pưa là ở đâu? Đó là một khái niệm nữa mà hai ông tìm hiểu và cho biết: Điều đó không ai xác định được, chỉ biết rằng đâu đó ngoài mường Trời, trên đường xuống mường Pưa, có một con sông và theo "mo Kiện" thì khi lên trời, linh hồn người chết phải vượt qua con "sông Khàn, bến Khạn". Nếu vậy thì hai đường tạo bằng những chấm ở thân chiếc nồi, nơi tiếp giáp giữa mường Pưa và mường Trời bằng một khoảng trống mà tôi vừa diễn tả ở phần I là sơ đồ của con "sông Khàn, bến Khạn" này chăng? Cũng theo quan niệm của người Mường, nếu là người sống thì không thể đi lên con sông đó được.


    Lọ Phùng Nguyên (mất vai) niên đại 2000 - 1000 năm tr.CN




    Nồi và chân kiềng Phùng Nguyên (Lũng Hòa) h22cm. Niên đại 2000 năm tr.CN




    Mô hình của người Mường ứng theo từng phần hoa văn trên gốm cổ


     

    Thế còn cái giới hạn giữa thế giới của mường Pưa và mường Pưa Tín- mường vua Khú thì sao? Trong những câu truyện cổ của người Mường còn nói lại là: xưa kia, mường Pưa và mường Pưa Tín còn thông thương được với nhau qua một cái Rôông (nghĩa là cái lối thông nối liền hai tầng cao thấp) nối liền mặt đất với thế giới bên dưới. Thời ấy hai mường còn đi lại với nhau, trai gái hai bên lấy lẫn nhau, nhưng sau, không rõ lý do gì- có người cho rằng tục lệ cưới xin khác nhau- mà hai mường lấp lối thông thương không đi lại với nhau nữa. Ở mường vua Khú cũng có khá nhiều truyện tương tự như vậy, ví dụ như truyện một người đi cày được mời xuống nước để "cúng vía" cho con vua Khú... Nhưng cái đáng nói ở đây là khi tôi đối chiếu những quan điểm trên với những gì có trên chiếc nồi, điều mà tôi nhìn thấy được đã gây một sự ngạc nhiên về sự trùng hợp kỳ lạ: Đường gờ đắp nổi phân tách giữa tầng hoa văn giữa và dưới cùng, người thợ gốm đã cố tình cắt bớt đi cái gờ rào ngăn cách và tạo ra những lối nhỏ thông thương của hai tầng hoa văn. Có lẽ những lối nhỏ này là những cái Rôông còn sót lại trong truyền thuyết cổ của người Mường.

    Trên đây, tôi vừa làm một công việc diễn dịch những gì thấy được trên chiếc nồi với quan niệm về thế giới của người Việt cổ mà nhìn rộng ra với cả ba tầng hoa văn thì đó trở thành một sơ đồ về thế giới "ba tầng", một bản văn về áng mo " Đẻ đất, đẻ nước " - bản sử thi đầu tiên của nền văn học Việt- Mường1.

     


    Nồi Đông Sơn. H14.5. Niên đại 500-100 tr.CN


    Thực ra, con số ba trong "ba tầng" thế giới không phải chỉ có trong quan niệm của người Mường, nó có mặt trong hầu hết các quan niệm về thế giới trong các dân tộc khắp nơi trên thế giới. Từ Đông sang Tây, ba là con số cơ bản và được xuất hiện từ rất sớm. Nó biểu thị một trật tự trí tuệ và tinh thần trong thần linh, vũ trụ hoặc trong con người. Người Trung Hoa nói, 3 là con số hoàn chỉnh, biểu hiện của sự toàn thể, sự hoàn thành. Đây là sự hoàn thành sự nghiệp Sáng thế: người con của trời và đất và làm hoàn tất Bộ Ba Vĩ Đại (Tam Tài). Trong đạo Phật có câu hoàn kết trong Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) hoặc thời gian phân ba: quá khứ, hiện tại, tương lai. Trong Kitô giáo thì đây là sự hoàn hảo của nhất thể thánh thần: chúa Trời là một nhưng có ba ngôi... và còn vô vàn ví dụ nữa trong các quan niệm cổ xưa nhất, của các nền văn minh cách xa nhau, bằng hình thức này hay hình thức khác đều lấy con số ba làm nền móng cho việc xây dựng những quan niệm đầu tiên về thế giới. Quay trở lại với chiếc nồi gốm cổ, những người thợ gốm thời đó đã phần nào thể hiện rành mạch cái quan niệm đó, và vấn đề ở đây là nếu loại bỏ giả thiết rằng quan niệm này được du nhập từ một nền văn hoá khác đến thì chính cái thế giới quan này cũng sẽ tự bộc lộ trong không gian xã hội của nó. Đó có lẽ là cái mốc cơ bản đầu tiên của con người khi bắt đầu có ý thức muốn lý giải thế giới xung quanh. Theo G.G.Jung: “Biểu tượng càng cổ xưa và sâu,... nó càng có tính tập thể và phổ biến.” 2


    Gốm Hy Lạp cổ đại. Niên đại 700 - 675 tr.CN


    Ở tầng hoa văn giữa, tầng được coi là mô tả thế giới trên mặt đất, tôi nhận thấy một số ý nghĩa nữa nhìn trên khía cạnh của biểu tượng. Đầu tiên là những hình chữ chi mà nhờ nó các tạo ra được các hình tam giác đối nhau. Hình chữ chi thường hay gặp trong nghệ thuật trang trí hoa văn, ý nghĩa của nó thường bị lu mờ so với cái biểu tượng đầu tiên mà nó muốn biểu đạt. Trong điểm khởi đầu của khá nhiều nền văn hoá cổ, ý nghĩa của hình chữ chi nổi bật lên trong các biểu đồ nguồn gốc vũ trụ, văn hoá, xã hội, biểu thị cho sự vận động không bao giờ kết thúc. Đây chính là sự vận động làm nên cuộc sống trên mọi bình diện 3. Còn tính biểu tượng của những hình tam giác với đường vạch ở giữa ngược nhau chạy vòng quanh thân chiếc nồi thì tôi vẫn thiên về hướng giải thích gắn nó với tín ngưỡng thờ sinh thực khí và cầu mưa (biểu tượng là những vạch đứng thẳng xen giữa các tam giác) một tín ngưỡng khá phổ biến ở vùng Đông Nam Á. Hình tam giác có đỉnh ở phía trên tượng trưng cho lửa và sinh thực khí nam, đỉnh tam giác chúc xuống phía dưới tượng trưng cho nước và sinh thực khí nữ. Cũng có thể tìm thấy sự tương đồng trong tính biểu tượng này ở các nền văn hoá khác. Ví dụ, theo Platon, tam giác đều tượng trưng cho thần linh, sự hài hoà, cân đối. Vì mọi sự sinh sản đều được thực hiện bằng cách phân chia, nên con người ứng với một tam giác đều cắt đôi, tức là một tam giác vuông. Đối với người Maya xưa, hình tam giác tượng trưng cho mặt trời và mầm ngô, gắn mặt trời và ngô, hình tam giác hai lần là biểu tượng của sức sinh sản. Tam giác ngược ở Ấn Độ là ký hiệu của yoni, hoặc tử cung. Biểu tượng này được sử dụng khá nhiều trên đồ gốm thuộc văn hoá Phùng Nguyên, trên trống đồng Đông Sơn... và theo tôi nó có một biến thể của biểu tượng này trên gốm thuộc văn hoá Hoa Lộc. Đó là hoa văn hình thoi có một chấm tròn ở giữa, hoặc hoa văn hình thoi có những chấm xung quanh. Ở Goatêmala, phụ nữ nhấn mạnh chức năng của hình thoi như là biểu tượng của nữ tính bằng cách thể hiện hình ấy trên y phục.


    Gốm Hy Lạp cổ đại. Niên đại 860 - 840 tr.CN



    Gốm Hy Lạp cổ đại. Niên đại 750 - 700 tr.CN


    Ở mọi nền văn hoá, nước luôn luôn có vị trí hàng đầu trong danh sách các biểu tượng được xuất hiện sớm nhất, mặc dù có những biến thể khác nhau nhưng những sắc thái trong ý nghĩa tượng trưng của nước đều cùng trên một cơ sở gần như đồng nhất. Ý nghĩa tượng trưng của nước có thể qui về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh. Tôi cho rằng, những hoa văn chữ S móc vào nhau ở tầng dưới cùng của chiếc nồi gốm không dừng lại ở ý nghĩa biểu tượng cho nước, cho thuỷ phủ. Ở đây, biểu tượng là sự kết hợp giữa nước và rắn (con Khú trong truyện cổ Mường), rắn không biểu thị một mẫu gốc, mà biểu thị một phức cảm có tính mẫu gốc gắn với bóng đêm lạnh lẽo và nằm sâu trong lòng đất buổi khởi nguyên: tất cả các con rắn có thể hợp thành vô số đơn nhất nguyên thuỷ, cái sự vật không thể chia cắt nguyên thuỷ, cái sự vật không ngừng tháo ra, biến đi, tái sinh. Keyserling trong cuốn "Sự trầm tư của thổ dân Nam Mỹ" nhìn nhận biểu tượng này như tầng sâu nhất của cuộc sống. Ông còn chỉ rõ: người Chaldéens chỉ có một từ chỉ chung cho cả cuộc sống và con rắn. Ở châu Phi, trong tín ngưỡng của người Dogon thì thần nước được biểu hiện dưới hình dạng một con vật hình rắn, là tổ tiên huyền thoại và là bán thần mang đến cho con người những tài sản văn hoá quí báu nhất: lò rèn và hạt giống... Và còn vô số ví dụ như vậy trong các tín ngưỡng cổ trong văn hoá Ấn Độ cho đến châu Âu đều có những huyền thoại về con rắn Nguyên Lai Vĩ Đại, biểu hiện của cõi bất phân nguyên thuỷ, nó nằm ở đầu cũng như ở cuối của mọi sự hiển lộ và đều giải thích ý nghĩa về hậu thế giới. Bởi vậy, tôi tạm lý giải tầng hoa văn chữ S cuối cùng này là biểu tượng của cội nguồn của sự sống trong đó nước là nguyên liệu ban đầu, chất liệu của rắn, rắn là biểu tượng của linh hồn tái sinh, là vị thần cổ, vị tổ tiên huyền thoại. Cái gờ đắp nổi vòng quanh thân nồi là biểu tượng nhằm giới hạn thế giới trên và thế giới dưới cùng này được người thợ gốm cố tình phá ra từng đoạn tạo thành những lối thông phải chăng là lối trở về để tái sinh của linh hồn.

    Trong khuôn khổ một bài viết ngắn và phải động chạm tới nhiều khái niệm khá mơ hồ, rất nhiều vấn đề chỉ có thể cảm giác mà không thể giải thích rạch ròi bằng duy lý là chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Tôi cũng không cho bài viết này của mình là sự khẳng định mà chỉ dừng lại ở nghĩa của từ gợi mở, dự đoán hi vọng phần nào là chứng cứ bổ sung cho điều mà các nhà sử học, khảo cổ học đã nói đến từ rất lâu. Ngoài ra có thể còn nhiều điều thú vị khi đánh giá chiếc nồi này theo những hướng khác. Ví dụ như so sánh những đường gờ đắp nổi trên chiếc nồi với mô hình "gỗ", nói lên vai trò to lớn của công cụ bằng tre gỗ trong đời sống người tiền sử, sơ sử của người Việt, hoặc tính tương đồng, khác biệt trong đồ án hoa văn so với các loại hình gốm trong cùng giai đoạn, sự tiếp nhận đồ án này trên văn hoá trống đồng Đông Sơn. Điều này thì phải có bài nghiên cứu vào dịp khác.


    Bùi Hoài Mai

    Chú thích:

    1 Phan Ngọc, Đẻ đất, đẻ nước bản sử thi đầu tiên của nền văn học Việt - Mường”, Tạp chí văn hoá dân gian, 4/1986.

    2 Jung. G.G - nhà triết học, phân tâm học, có nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng học. Tác phẩm chính: “Con người và biểu tượng”, Paris. 1964.

    3 Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, “Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới”, NXB Đà Nẵng 1977, trg399.

    4 Thuật ngữ này đã được ông Hà Văn Tấn dùng trong bài "Mô hình "gỗ" với thời đại đá ở Việt Nam và Đông Nam Á" in trong Tạp chí khoa học (Ngữ văn, Lịch sử) Đại học Tổng hợp Hà Nội, số1 năm 1985.

Share:         LinkHay.com