E-mail        Print        Font-size  
  • SÁNG TÁC TRANH ĐỀ TÀI CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM

    MINH THỊNH - Côn Đảo - nơi ngục tù là nơi sáng nhất. Sáp màu. 90x180cm




    Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc luôn là sự thức tỉnh chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hòa bình. Thực tế đã chỉ ra rằng trong mấy nghìn năm lịch sử dân tộc không thời đại nào là không có giặc ngoại xâm. Thậm chí có thời cuộc tính bằng 1000 năm, 80 năm, 30 năm. Sự tôn quân ái quốc, tinh thần đoàn kết toàn dân trở thành sức mạnh “thần thánh”, đánh bại kẻ thù. Làm nên những trang sử hào hùng về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử - anh hùng dân tộc của các thời mãi còn sống động, mà ta hằng trân trọng. Nó trở thành một đề tài quan trọng bậc nhất, khơi dậy ý tưởng và nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, góp phần bền vững cho hôm nay và mai sau.

    Trong nhiều năm qua, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (BTLSQSVN) là đơn vị thường trực phát động các cuộc “Vận động sáng tác Mỹ thuật toàn quốc đề tài “LLVT - CTCM”. Bảo tàng đã tổ chức được nhiều đoàn đi thực tế, mở trại sáng tác và các triển lãm sau đó đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Triển lãm về các tác phẩm tại sáng tác Mỹ thuật về LLVT- CTCM 2015 lần này đã diễn ra từ 4/10 đến 24/11/2015 với 20 tác giả, sáng tác 29 tác phẩm (chất liệu gồm: 21 sơn dầu và Acrylic; 1 sơn mài; 2 Lụa; 2 Khắc gỗ; và 3 phác thảo) phản ánh về kháng chiến chống ngoại xâm với các chiến trận, chiến dịch lớn trong lịch sử quân sự Việt Nam. Có 7 bức về lịch sử truyền thống, chủ yếu là tranh lịch sử chiến trận như Trận Bạch Đằng của họa sĩ Đặng Hướng, là tranh khắc gỗ công phu có hiệu quả. Các bức như Hào khí Đông A - Bạch Đằng 1288 (sơn mài) của họa sĩ Nguyễn Trường Linh; Nam Quốc Sơn Hà (Acrylic) của họa sĩ Trần Thị Bích Huệ; Trận Vạn kiếp, Trận Bạch Đằng (sơn dầu) của họa sĩ Hà Huy Chương là các tác phẩm thể hiện chiến trận thời Trần; Trận đầm mực - Ải Chi Lăng 1428, Trận vườn Dừa - Rạch Gầm Xoài Mút 1725 (sơn dầu) của họa sĩ Phan Oánh về trận đánh chống quân Minh thời Lê Lợi, và trận đánh quân Xiêm thời Quang Trung - Nguyễn Huệ. Về kháng chiến chống Pháp có 9 bức phản ánh về lãnh tụ, quân đội và tự vệ kháng chiến. Hình tượng Bác Hồ trong các bức: Bác Hồ ở Tân Trào (sơn dầu) của họa sĩ Lê Cù Thuần, Đêm đông Việt Bắc (Acrylic) của họa sĩ Lê Đức Biết. Từ Pắc Pó tới An toàn khu (Bột màu) của họa sĩ Bùi Anh Hùng.


    ĐẶNG HƯỚNG - Trận Bạch Đằng. Khắc gỗ. 121x178cm


    Các bức Tiến về phía trước (sơn dầu) của họa sĩ Đào Quốc Huy; Chân đồng vai sắt giữa rừng Pắc Pó (Acrylic) của họa sĩ Nguyễn Thế Hữu, thể hiện bộ đội hành quân, chuyển pháo vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Các bức: Du kích Đường 5 (phác thảo bột màu) của họa sĩ Nguyễn Tuấn Long; Quyết tử để tổ quốc quyết sinh (Acrylic) của họa sĩ Lê Đức Biết; Hà Nội hẹn ngày gặp lại (Acrylic) của họa sĩ Bùi Anh Hùng đều thể hiện về dân quân và tự vệ kháng chiến. Tranh về đề tài kháng chiến chống Mỹ có số lượng nhiều nhất với 13 bức: Đất thiêng Quảng trị (sơn dầu) của họa sĩ Nguyễn Hải Nghiêm thể hiện chiến trận ác liệt ở Quảng Trị; Trận đánh quyết định của họa sĩ Đào Hoa Vinh; Đặc công rừng Sác (Acrylic), Cửa mở (khắc gỗ) của họa sĩ Trịnh Bá Quát; Đường đến Dinh Độc Lập (Acrylic) của họa sĩ Bùi Quang Đức; Côn Đảo - nơi ngục tù là nơi sáng nhất (sáp màu) của họa sĩ Minh Thịnh, phản ánh về chiến trận miền Nam và đấu tranh trong ngục tù của quân thù. Tác phẩm Lễ hội Tây Nguyên (Acrylic) của họa sĩ Nguyễn Thế Hữu lại thể hiện vui mừng của ngày giải phóng. Các bức Những nhịp cầu tọa độ lửa (Sơn dầu) của họa sĩ Ngân Chài; Vùng mỏ những năm đánh Mỹ, Đánh thắng trận đầu (lụa) của họa sĩ Nguyễn Thị Thiền; Đánh thắng trận đầu (sơn dầu) của họa sĩ Mai Huy; Bầu trời Hà Nội tháng chạp 1972 (sơn dầu) của họa sĩ Phạm Ngọc Doanh - đều phản ánh về cuộc chiến “Điện Biên Phủ trên không” chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ xâm phạm bầu trời Hà Nội. Mặc dầu kinh phí hạn chế, thời gian lại ngắn, nhưng với trách nhiệm nghệ sĩ và sự tâm huyết với đề tài kháng chiến trong Lịch sử Quân sự Việt Nam. Mỗi tác giả với cố gắng của mình đã sáng tạo nên những tác phẩm, đáp ứng yêu cầu trại sáng tác. Tuy nhiên vẫn có những bức còn dừng ở mức phác thảo, đòi sự nâng cao. Song bên cạnh kết quả sáng tác của trại, còn là sự gợi mở về: Vấn đề sáng tác đề tài Lịch sử Quân sự Việt Nam.

    Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm thời nào cũng có. Thời trước, Vua quan và quân dân đánh giặc đều có tướng lĩnh, quân đội, bên cạnh là nhân dân (có dân nông sản xuất lúa gạo, nuôi quân đánh giặc, các đội dân binh, dân công địa phương hỗ trợ kháng chiến). Bên cạnh lực lượng vũ trang, thì “lương thảo” dân làm ra rất cần cho chiến trận, chiến dịch lớn thắng lợi. Nó còn được đặt thành vấn đề quan trọng trong binh pháp chiến trận¹. Từ sau cách mạng tháng 8 thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh trên thế giới lúc bấy giờ là Pháp (1954) và Mỹ (1975) là dấu mốc của lịch sử hiện đại trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc. Quân đội ta đã có những bước phát triển vượt bậc và chính quy, hiện đại hơn. Sát cánh luôn có nhân dân, có hậu phương, sản xuất lúa gạo cung cấp cho tiền tuyến. Ta vừa đánh giặc vừa xây dựng đất nước. Trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước luôn nổi bật tinh thần Đoàn kết Quân - Dân một lòng, tất cả để đánh thắng, đuổi ngoại xâm ra khỏi đất nước. Như vậy chiến đấu- sản xuất - xây dựng - bảo vệ Tổ quốc (dù thời chiến hay thời bình) là các phạm trù luôn gắn quyện vào nhau. Điều đó nằm trong đề tài lịch sử lớn là “Bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc Việt Nam”.


    NGUYỄN HẢI NGHIÊM - Đất thiêng Quảng Trị. Sơn dầu. 165x210cm


    Đề tài “Lịch sử Kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc” (Truyền thống và Hiện đại) đề cập đến các lực lượng - vũ trang kháng chiến, nổi bật với các chiến trận, chiến dịch lớn được ghi dấu trong lịch sử. Nó luôn đòi hỏi phản ánh nhân vật - sự kiện lịch sử. Các tranh sáng tác về lịch sử chiến trận mang tính trọng điểm với yêu cầu đó.

    Trại sáng tác lần này gợi mở nhận thức về đề tài: Lịch sử quân sự Việt Nam trong các thời kỳ. Với tranh Lịch sử có những yêu cầu khác cá thể tranh khác. Cần đào sâu nghiên cứu hình tượng nhân vật, và sự kiện lịch sử để sáng tạo nên hình tượng sống động. Sáng tác tranh Lịch sử cho đúng thực tế lịch sử về thời đã qua, đòi hỏi tác giả phải vượt qua những khó khăn để tìm về lại quá khứ. Phản ánh lịch sử, làm sống lại lịch sử, người sáng tác cần phải nhận thức các tư liệu lịch sử (sử liệu - hình ảnh - hiện vật - nguyên gốc...). Chú trọng tìm hiểu con người, dung mạo, dáng dấp, tính cách nhân vật, trang phục, trang bị (quân trang quần áo, mũ giày) của các tướng và binh lính (quân ta và cả quân giặc). Đến các binh khí, phương tiện, thuyền chiến, đội hình, cờ trận, hiệu lệnh trong các chiến trận. Chú trọng đến địa điểm, không gian thời gian, thời tiết, hoàn cảnh xảy ra sự việc, đã diễn ra trong lịch sử để thể hiện cho đúng với thực tế lịch sử. Cũng giống như Điện ảnh đóng dựng các chiến trận lịch sử phải cần có cố vấn quân sự về quân ta, quân địch, về đánh/đấm… bên cạnh cùng Đạo diễn và Họa sĩ thiết kế, hóa trang, phục trang,… để cho sát thực lịch sử, tạo chất sinh động nghệ thuật. Ngay cả với sáng tác tranh Lịch sử Hiện đại cũng đòi hỏi chú ý như vậy. Thể loại tranh Lịch sử lâu nay vẫn quan niệm là phản ánh lịch sử chống ngoại xâm, với trọng điểm là Nhân vật và Sự kiện Lịch sử. Tức là các anh hùng dân tộc với các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, như: Hai Bà Trưng đánh quân xâm lược Đông Hán; Bà Triệu đánh quân Ngô. Ngô Quyền đánh quân Nam Hán. Nhà Lý đánh quân xâm lược Tống. Nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên Mông. Nhà Lê sơ khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng quân Minh. Nhà Tây Sơn là Quang Trung đánh tan quân Thanh. Các chiến trận lớn như Trận Bạch Đằng (thời Tiền Ngô); Trận tuyến sông Cầu/Như Nguyệt thời Lý; Trận Kiếp Bạc, Trận Bạch Đằng thời Trần. Trận Tốt Động - Chúc Động, Trận Chi Lăng (thời Lê sơ), Trận Đống Đa, Trận Rạch Gầm - Xoài Mút (thời Tây Sơn)...


    HÀ HUY CHƯƠNG - Trận Bạch Đằng. Sơn dầu. 120x240cm


    NGUYỄN TUẤN LONG - Du kích đường 5. Bột màu. 100x65cm

    Thời gian lịch sử càng xa xưa thì càng không có ảnh chụp thời ấy. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta “bó tay.com”. Nhờ dựa vào các “Tư liệu lịch sử” về nhân vật, sự kiện trận đánh, các tư liệu văn hóa dân gian liên quan, và tìm đến địa danh trước kia đã diễn ra… để nghệ sĩ dựa vào đó “nhập tâm”, hình dung, diện mạo nhân vật và tìm mẫu để xây dựng hình tượng. Cái “giống” về chân dung nhân vật là rất cần, song trong sáng tác nghệ thuật thì chỉ giống chưa đủ, nó chỉ là một yếu tố, có thể bổ trợ. Còn quan trọng là toàn bộ, gồm nhiều thành tố hiện thực lịch sử cấu thành tác phẩm. Đó là cách làm của các danh họa để thực hiện tranh Lịch sử. Xin dẫn 3 trường hợp: I. Rê Pin danh họa Nga (thế kỷ XIX) sáng tác tranh I Van Bạo chúa, họa sĩ đã thu thập tư liệu, nung nấu để xác định “nhận diện” nhân vật. Ông đi tìm người mẫu ngoài đời (giống như mình hình dung về nhân vật lịch sử) để vẽ. I. Rê Pin đã thể hiện sâu sắc nhân vật I Van Bạo chúa cho tranh lịch sử của mình. Hoặc Xu ri Cốp danh họa Nga (thế kỷ XIX) sáng tác tranh lịch sử. Ông đã ấp ủ nhân vật Mensicốp thời Pie đại đế, mà chưa tìm được người mẫu nào như lịch sử đã tả. Một lần tình cờ gặp một ông già “giống” nhân vật Mensicốp mà ông hình dung, nên đã đi theo. Làm cho ông này sợ sệt, nghi là bị mật thám theo dõi, nên đã chạy vội về nhà đóng chặt cửa lại. Xu ri Cốp đã cố tìm đến gõ cửa. Nghe tiếng gõ, ông ra mở, thấy người đi theo đó, tự giới thiệu là: họa sĩ và cho biết ý định muốn gặp. Ông già đó là một thầy giáo, khi biết rõ đã vui lòng ngồi làm mẫu. Xuricốp đã vẽ thành công nhân vật tranh lịch sử Men si cốp ở Bê rê rốp. Danh họa Diêm Lập Bản thời nhà Đường, Trung Quốc đã vẽ bức Lịch đại Đế vương Đồ quyển về 13 vị hoàng đế xưa mà ông không hề biết mặt. Nhờ đọc kỹ, hiểu sâu các tư liệu lịch sử miêu tả, truyện kể dân gian, văn học mà họa sĩ đã nhập tâm, dùng trí tưởng tượng, hình dung về nhân vật, rồi tìm mẫu tương tự ở đương thời, đã sáng tạo nên chân dung các vị vua đó. Khi tác phẩm hoàn thành, các chân dung sống động, không còn gợn chút gì về “có giống hay không giống”. Mà nhận ra đúng với tính cách của mỗi vua như lịch sử tả. Vì thế mà tranh còn được gọi là Lịch đại danh họa ký. Các kinh nghiệm trên cho thấy: Chỉ khi có đủ tư liệu lịch sử, nghiên cứu kỹ lưỡng, hiểu sâu sắc đã hình dung ra nhân vật, thì cảm hứng sáng tác mới chủ động mạch lạc, tạo nên hình tượng nhân vật lịch sử sinh động.

    Vấn đề sáng tác tranh lịch sử đã đặt ra trước đây và hiện nay² mãi luôn là cần thiết. Đem tiếng nói của nghệ thuật tạo hình tô đậm niềm tự hào, tự tôn dân tộc, để gìn giữ tổ quốc hòa bình, hội nhập và phát triển. Đó cũng là để chúng ta không quên lịch sử dân tộc, từ đó làm sinh động và sâu sắc hơn về lịch sử bằng hình tượng tạo hình. Không như Bộ GD-ĐT đang dự kiến tích hợp môn Lịch sử vào môn “Công dân và Tổ quốc” trong trường học. Định hướng này đã bị “Dư luận lên tiếng, về dự kiến“Xóa sổ” môn Lịch sử”- Xin đừng trở thành người có tội với dân tộc” - mà Báo Phụ nữ Thủ đô (số 46 ngày 18-11 và số 47, ngày 25-11-2015) - đã đăng: “Các ý kiến tâm huyết và nghiêm túc của nhiều GS-TS, các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, các trung tâm, vụ, viện, khoa Sử các trường đại học trên toàn quốc và một số giáo viên Lịch sử phổ thông được đưa ra tại Hội thảo quốc gia “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” vừa được tổ chức ngày 15/11 tại Hà Nội”.



    NGUYỄN TRƯỜNG LINH - Hào khí Đông A - Bạch Đằng 1288. Sơn mài. 150x200cm





    TRỊNH BÁ QUÁT - Đặc công rừng Sác. Acrylic. 130x240cm


    Đề tài “Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm” là đề tài quan trọng và đòi công phu. Giới Mỹ thuật Việt Nam vẫn đang nỗ lực để mong muốn có những tác phẩm phản ánh lịch sử xứng tầm thời đại. Đó là mục đích và yêu cầu lớn. Cần được sự quan tâm hơn nữa của các cấp (trong và ngoài Quân đội). Tổ chức tốt các cuộc vận động, các trại sáng tác, đầu tư sáng tác hơn nữa, nâng cao chất lượng tác phẩm hơn nữa. Để có những triển lãm chuyên sâu về đề tài Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà nước cần chú ý đến việc mua/sử dụng tác phẩm để lưu giữ trong các Bảo tàng, hay trong các công sở. Đáp ứng nhu cầu xã hội và lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, khơi dậy tự hào truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trại sáng tác 2015 là nằm trong mục đích đó. Hy vọng trong thời gian tới sẽ nâng cao các mặt nêu trên để có nhiều tác phẩm mới, chất lượng cao về đề tài Lịch sử quân sự Việt Nam.

    Nguyễn Văn Chiến

    1. Trong Lịch sử chiến trận Lương thảo luôn đi cùng các trận đánh. Các quân sư đều lo lương thảo. Khi trận kéo dài, lương còn ít ngày… mà liệu binh pháp: “Tiếp lương” hay “Cướp lương”, hoặc “Phá lương giặc”. Cho thấy sản xuất lương thảo đáp ứng cho chiến trận, cũng như xây dụng vùng cứ địa, luôn quan trọng cho chiến thắng. Kể thêm: Thời Tam Quốc Gia Cát Lượng khi điều binh đi chiến trận luôn lo việc điều lương, chế trâu gỗ chuyển lương qua đường núi. Hay Khổng Minh lừa Tư Mã Ý để gặt lúa ở Lũng Tây. Với Tào Tháo cũng rất trọng quân lương, gặp trận mạc nguy khốn, lương thảo gần hết, phải “ngụy tạo” không để lộ. Tào Tháo dùng kế đánh đánh Ô Sào phá lương thảo của Viên Thiệu, mà đánh thắng. Khi điều quân qua cánh đông lúa đã ra“quân lệnh” không được xâm hại, “ai vi phạm sẽ xử trảm”. Khi ngựa của Tào Tháo hoảng loạn trước bầy Quạ, đã phi xuống ruộng lúa, Tào Tháo đã tự chịu theo quân pháp. Các tướng đều xin ngoại lệ, vì Tào Tháo chết thì không được. Tào Tháo đã tự cắt râu để phạt mình. Chuyện trên cho thấy quân lương như quân binh cho chiến trận, thắng bại là ở đó. Trong thời chiến tranh ở ta, lực lượng sản xuất lúa gạo rất được coi trọng. Với phong trào “3 đảm đang” của phụ nữ làm việc đồng áng và những việc khác (thay chồng con đi đánh giặc) quả là có ý nghĩa lớn cho kháng chiến thắng lợi.

    2 . Ngành PBMT (Hội MTVN) đã có một cuộc hội thảo khoa học về vấn đề: “Sáng tác Tranh Lịch sử”.

Share:         LinkHay.com