E-mail        Print        Font-size  
  • HỌA SĨ TRẺ TRÊN CON ĐƯỜNG ĐƯƠNG ĐẠI

    THÁI NHẬT MINH - Gieo mầm. 2016. Điêu khắc sắp đặt




    Chúng ta phải đi ngang với thời gian chứ không phải để thời gian đi ngang qua
    (Ngạn ngữ Đức)

    Trong cuốn sách Họa sĩ trẻ Việt Nam – NXBMT, 1996 của NPBMT Phan Cẩm Thượng và họa sĩ Lương Xuân Đoàn có viết: “Người ta quen bình luận hùng hồn và sâu sắc về một thời đại nghệ thuật đã qua, một nghệ sĩ đã chết, hơn là nói về những người cùng thời. Điều này cũng có lý do. Nghệ thuật cần có thời gian để chọn lọc. Thực ra trong nghệ thuật không để đợi già mới giỏi. Đại bộ phận họa sĩ danh tiếng đều có tác phẩm xuất sắc ngay từ trẻ. Thậm chí nhiều người không kịp sống tới già. Raphael, Caravaggio, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng đều có những sáng tạo không thể lặp lại ở tuổi thanh niên. Nguyễn Trãi từng có thơ “Thanh niên phương dự ái nho lâm” (tuổi thanh niên thơm nức như rừng nho) là vậy…”.

    Khái niệm họa sĩ trẻ ở Việt Nam được quy ước dành cho tuổi dưới 35. Nếu tính bắt đầu từ sau Đổi mới, cụ thể hơn là từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước thì có nhiều gương mặt tiêu biểu cho mỗi thời kỳ. Từ năm 1990 đến nay là tròn 25 năm. Nếu tạm chia theo thời gian sẽ có khoảng 3 thời kỳ. 1990-1999; 2000-2009; 2010-2015… nếu viết đủ, viết kỹ sẽ có biên độ rộng về thời gian và cần rất nhiều tư liệu để viết sâu.. Vì vậy, trong tham luận này tôi xin phép được điểm một số mốc thời gian và một số gương mặt của mỹ thuật Việt Nam qua ba thời kỳ.

    Thập kỷ 90 - Thời kỳ Vàng

    Lật ngược trở lại quá khứ những năm 1990, khi đó mỹ thuật Việt Nam được đánh giá là thời kỳ rực rỡ của hội nhập, đổi mới, tiên phong. Các họa sĩ trở nên giàu có cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Họ được vẽ những gì họ yêu thích, thậm chí được cổ súy nhiệt liệt bởi các yếu tố nước ngoài. Việt Nam lúc ấy như một ngôi nhà bấy lâu nay cửa đóng then cài, bây giờ mới mở cửa mời hàng xóm ghé thăm. Các khuynh hướng nghệ thuật được các nghệ sĩ nghiên cứu, ấp ủ bấy lâu nay thỏa sức thể hiện. Trừu tượng, Siêu thực, Biểu hiện tuy đã có manh nha từ những năm đầu thế kỷ 20 tại phương Tây nhưng chỉ bùng phát mạnh mẽ vào thập kỷ 40, 50 của thế kỷ trước. Vậy mà ở Việt Nam cũng phải đến thập kỷ 90 nó mới có thể được công khai và phổ biến. Khoảng thời gian đó được ví như mảnh đất tươi tốt, màu mỡ mà các họa sĩ gieo hạt mầm gì cũng được thu hoạch. “Thiên thời địa lợi nhân hòa”, họa sĩ trẻ có tất cả những may mắn mà thế hệ trước không có...Những họa sĩ như Thành Chương, Đặng Xuân Hòa đã là những cái tên “rất chắc” trước đó….rồi Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Hồng Việt Dũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đinh Ý Nhi, Hứa Thanh Bình, Đinh Quân, Lê Quảng Hà, Bùi Hữu Hùng, Nguyễn Minh Thành, Quách Đông Phương…là những gương mặt luôn có tên trong danh sách của các gallery lớn nơi phố cổ. Các họa sĩ có thể triển lãm cá nhân liên tục, đi triển lãm ở nước ngoài do các tổ chức nghệ thuật, các gallery mời và tài trợ… khái niệm “họa sĩ chuyên nghiệp” (chỉ sáng tác) đã vượt lên khái niệm cũ về các “họa sĩ công chức thời bao cấp” (vừa làm công chức, vừa sáng tác) bởi trước đó họa sĩ là một “khái niệm mơ hồ” (theo PCT và LXĐ).


    LƯU THẾ HÂN - Lên chùa. 1991. Khắc gỗ. 40x50cm


    Trước đấy không lâu, từ giữa những năm 1970 đã manh nha một thế hệ những họa sĩ có tư tưởng Đổi mới. Trong khi đa phần các họa sĩ vẫn ảnh hưởng sáng tác theo khuynh hướng nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa thì các NĐK như Nguyễn Hải, Lê Công Thành đã khám phá, thử nghiệm, đẽo gọt khối hình hiện đại lập thể, học hỏi các NĐK lừng danh thế giới là Brancusi, Henry Moore…trong khi vẫn kết hợp với điêu khắc truyền thống. Họa sĩ Trần Lưu Hậu, một trong những họa sĩ học khóa kháng chiến, tốt nghiệp Học viện Mỹ thuật Surikốp (Liên Xô) năm 1962, từng đoạt nhiều giải thưởng về thiết kế đồ họa…ông đưa bảng màu và phong cách rất gần với trừu tượng bằng những gam màu rực rỡ, lung linh, nhảy nhót và tươi mới. Từ quãng thời gian này đến tận cuối những năm thập kỷ 80 thì một loạt những gương mặt như Thành Chương, Lương Xuân Đoàn, Đặng Thị Khuê, Đỗ Thị Ninh, Lê Anh Vân, Đỗ Sơn, Hoàng Đình Tài, Lê Huy Tiếp, Nguyễn Quân, Bảo Toàn, Lý Trực Sơn, Ca Lê Thắng, …và tiếp ngay sau đó là thế hệ gây “cơn địa chấn” trong mỹ thuật Việt Nam với một số họa sĩ “ăn khách ở gallery” đã nêu tên ở trên cùng với: Trương Tân, Trần Lương, Hà Trí Hiếu, Phan Gia Hương, Trần Trọng Vũ, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Tấn Cương, Đỗ Hoàng Tường, Trần Văn Thảo, Bùi Mai Hiên, Vi Kiến Thành, Nguyễn Xuân Tiệp, Đào Minh Tri, Phạm Luận, Phan Cẩm Thượng, Hoàng Hồng Cẩm, Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Kim Quang, Hứa Thanh Bình, Đào Châu Hải, Trần Hoàng Cơ, Phan Phương Đông, Nguyễn Hải Nguyễn, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Kim Quang, Vũ Thăng, Trịnh Quốc Chiến, Lưu Thế Hân, Trần Nguyên Hiếu, Đỗ Minh Tâm, Võ Xuân Huy, Lê Hồng Thái, Trần Trọng Vũ, Đinh Thị Thắm Poong, Phạm An Hải…

    Thế hệ vàng này đã mở ra một trang sử mới cho hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp: tự giao lưu, tự bán tranh, tự đi triển lãm nước ngoài mà không nhất thiết phải phụ thuộc vào tổ chức chính thống làm cầu nối.

    Nếu xét về tư tưởng và xu hướng nghệ thuật ta có thể nhận thấy các họa sĩ trẻ thập kỷ 90 thường chú trọng vào “thuyết tâm linh, tính bản ngã trong chủ thể của bản chất, của sự vật”. Nghe có vẻ kỳ bí, cao siêu nhưng thực ra rất đơn giản vì họ có xu hướng pha trộn motif dân gian như các chi tiết trong nhà Phật, đình chùa, đền miếu, yếu tố Chăm, tạo hình tượng nhà mồ Tây Nguyên kết hợp với phong cách hội họa châu Âu hiện đại. Mới đầu, do “nhu cầu của khách mua” thích tính dân gian đương đại nên một số họa sĩ có phong cách tương đối giống nhau khi sáng tác cùng motif. Sau một thời gian, cá tính tạo hình mới trở nên rõ rệt. Hồi đó, đa phần họ chăm chú, mê say sáng tạo ra những bức tranh thật đẹp để bán cho gallery hoặc bán trực tiếp cho khách nước ngoài, ít tuyên bố tuyên ngôn, học thuyết. Bởi họ còn phải vẽ, phải triển lãm…Sơn mài, sơn dầu liên tục được sáng tác vì chúng là những chất liệu được mua nhiều nhất. Họ là “Thế hệ Vàng” với cả nghĩa đen và nghĩa bóng của hội họa Việt Nam. Khách mua nhanh, liên tục; cá biệt có họa sĩ tranh sơn dầu chưa kịp khô cũng đã phải đóng thùng gửi đi nước ngoài. Các gallery làm một cầu nối liên kết vững chắc giữa họa sĩ và khách hàng. Một số họa sĩ hàng TOP thì vẽ, bán liên tục. Các gallery thì bị cuốn theo dòng chảy tiền – hàng – tiền. Bảo tàng và nhà sưu tập vẫn chưa kip định hình theo thời thế để mua cho sưu tập của mình những tác phẩm đẹp, có chất lượng nghệ thuật cao…Tất cả cứ ào ào như một cơn bão. Khi cơn bão qua đi, thị trường lắng lại mới nhận ra rằng những tác phẩm tốt nhất thời kỳ đó đều đã nằm trong các bộ sưu tập nước ngoài…

    Và hệ hụy của cơn bão ấy ảnh hưởng tới tận bây giờ bởi một số gallery, nhà sưu tập của Việt Nam giờ phải bấm bụng phải đi ra nước ngoài mua một lại một số tác phẩm với giá cắt cổ từ các nhà đấu giá nghệ thuật . Cá biệt, một số ít họa sĩ thì tếu táo rằng “bây giờ ngoài việc sáng tác thì hàng ngày họ còn kiêm thêm việc trả lời email được gửi từ rất nhiều nơi trên thế giới để xác nhận giúp đấy có phải tranh xịn của mình” sáng tác hay không…!!!


    ĐẶNG XUÂN HÒA - Hoa mào gà.1993. Sơn dầu. 40x60cm


    Mười năm đầu tiên của thế kỷ 21… Thời kỳ chuyển tiếp

    Thế hệ này chỉ còn lại chút vàng son của những năm 90. Những gương mặt đã thành danh tiếp tục đi theo con đường và phong cách nghệ thuật đã giúp họ thành công dù tranh bán ít hơn trước rất nhiều. Thế hệ tiếp theo phải vật lộn bởi sự “thoái trào hội họa”. Họ chỉ còn chút âm hưởng dĩ vãng. Rất nhiều họa sĩ đang cố tự giải thoát vùng vẫy để kiếm tìm vinh quang và may mắn mà mới rất gần đây còn đang hưng thịnh. Có đôi chút ảo vọng khi có nhiều câu hỏi tự đặt ra: Tại sao tranh của mình tốt (có nhiều tác phẩm tốt thật) mà tại sao vẫn rất khó tìm đầu ra…phải chăng hội họa đã thoái trào. “Hội họa không thoái trào” nhưng “sự mới lạ và dễ dãi ban đầu” đã qua đi. Sang chơi, sang thăm, mua bán nhiều cũng đã nhàm rồi. Nói thẳng ra là “các Thượng đế” đã thưởng thức tạm đủ rồi. Họ muốn một cái gì đó khác đi cả về tạo hình lẫn tư duy nghệ thuật. “Mắm tôm, riềng, mẻ, sả nấu giả cầy lúc đầu tuy mới lạ dù trình bày đơn sơ nhưng vẫn là gia vị quốc hồn quốc túy” nay họ đã nếm cả rồi…bây giờ họ cầu kỳ hơn, kỹ càng hơn cả nội dung, hình thức và chất lượng. Điều này bắt buộc các họa sĩ phải nâng tầm cho sáng tác của mình. Nhiều nghệ sĩ âm thầm kiên định đi theo con đường đã chọn. Ngoài những tác phẩm mang tính thời cuộc theo dòng chảy như: tôn giáo, chiến tranh, chất độc da cam, ô nhiễm môi trường, sự phân hóa xã hội, những khắc khoải cá nhân về giới tính, về thân phận thì họ hướng tới những tác phẩm có tạo hình hiện thực hơn, lãng mạn hơn, chú ý thẩm mỹ, vẻ đẹp thị giác. Đây là những bức tranh nếu để sưu tầm, sử dụng thì thực sự có giá trị nghệ thuật. Những gương mặt như Phạm Bình Chương, Nguyễn Thị Châu Giang, Lý Trần Quỳnh Giang, Nguyễn Trường Linh, Nguyễn Thanh Hoa, Đặng Phương Việt, Đào Quốc Huy, Nguyễn Ngọc Dân, Lê Lạng Lương, Nguyễn Đình Quang, Lương Lưu Biên, Lê Lạng Lương, Vũ Đình Tuấn, Nguyễn Nghĩa Phương, Nguyễn Trí Mạnh, Khổng Đỗ Tuyền, Nguyễn Sơn, Vũ Hồng Ninh, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Huy Tính, Nguyễn Ngọc Lâm, Hoàng Minh Phúc, Lưu Chí Hiếu là một số gương mặt tiêu biểu

    Ngoài những họa sĩ vẫn âm thầm sáng tác thì đây cũng chính là thời kỳ nở rộ, thời hoàng kim của hình thức nghệ thuật Sắp đặt, Trình diễn và Video Art. Đây cũng là thời kỳ mà các tổ chức nước ngoài như Quỹ Ford, Hội đồng Anh (British Counci), Viện Goethe Hà Nội, Trung tâm văn hóa, ngôn ngữ và văn minh Pháp ( L’Espace), Quỹ Hỗ trợ và phát triển văn hóa Thụy Điển – Việt Nam, Quỹ Phát triển và trao đổi văn hóa Đan Mạch – Việt Nam, Trung tâm Văn hóa nghệ thuật Việt – Hàn đã tài trợ tổ chức.




    ĐÀO HẢI PHONG - Phong cảnh. 1995. Sơn dầu. 78,5x53,5cm


    Sắp đặt – Trình diễn được trình làng vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước ở châu Âu và Mỹ, bắt đầu từ trào lưu mang tên Happening Art (nghệ thuật hành động) tại Mỹ, và Fluxus Art (nghệ thuật ngẫu hứng) tại châu Âu. Tuyên ngôn của loại hình nghệ thuật này bắt nguồn từ nghệ sĩ Allan Kaprow với “mục đích mở ra những giá trị và thái độ mới mẻ cho các thế hệ tương lai”, “ khuyến khích các nghệ sĩ trở nên “phản nghệ sĩ” (un-artist) để tìm cách chuyển hóa, tác động vào “đấu trường toàn cầu” (global arena) hơn là quanh quẩn trong việc sáng tạo ra những vật thể nhằm mục đích mua bán…” (phi lợi nhuận)

    Hiểu được mục đích của nghệ thuật Sắp đặt và Trình diễn khiến chúng ta có thể lý giải dễ dàng tại sao sau bùng nổ của thời hoàng kim thập kỷ 90 thì đây chính là một phần con đường tất yếu của mỹ thuật Việt Nam. Thực tế cho thấy một số ít họa sĩ trẻ vẫn đang ôm trong mình giấc mộng nổi tiếng. Tranh của họ trên thực tế đã trở nên khó bán. Họ tự tìm tới con đường này vì nó làm cho họ trở nên dễ dàng được chú ý (nôm na là “hào quang”, thứ mà các họa sĩ thập kỷ 90 đã có rất nhiều). Từ hiện tượng manh nha đầu tiên của Nguyễn Văn Tiến với vải xô, máu làm từ thuốc đỏ trình diễn năm 1997 ở Văn Miếu đã mở ra một thời kỳ mới với các gương mặt nghệ sĩ Trình diễn và sắp đặt thực thụ như Đào Anh Khánh, Trần Lương, Lê Vũ, Phương Vũ Mạnh, Trần Đức Quý, Đinh Gia Lê, Nguyễn Minh Phước, anh em song sinh Lê Ngọc Thanh, Lê Đức Hải, Phương Linh... Sắp đặt, Trình diễn và Video Art thời kỳ này có đất sống chính nhờ sự hỗ trợ của các quỹ văn hóa trên và Hội Mỹ thuật Việt Nam cũng rất đổi mới khi phối kết hợp các Quỹ trong rất nhiều triển lãm Trình diễn, sắp đặt tại Trung tâm Mỹ thuật đương đại của HMTVN. Tới nay, trừ họa sĩ Trình diễn Đào Anh Khánh, Trần Lương (đã trở thành thương hiệu) thì Trình diễn và Sắp đặt, Video Art đã nguội do không còn nguồn tiền tài trợ từ các quỹ vì loại hình nghệ thuật này không bán được và các quỹ cũng chỉ hỗ trợ trong một khoảng thời gian nhất định mà thôi.

    Vì thế giấc mộng nổi tiếng nhanh và những tuyên ngôn có phần vội vã khi nói : Sắp đặt, Trình diễn và Video Art là nghệ thuật của tương lai, phải có bảo tàng cho nghệ thuật này, nhà nước phải đầu tư thật mạnh…đã có câu trả lời rõ rệt sau không quá 10 năm.

    Năm năm trở lại đây – 1/2 của một thập kỷ

    Họa sĩ của năm năm gần lại đây dường như trở nên đã ngấm, đã hiểu, đã vỡ con đường nghệ thuật chính là phục vụ cho các cảm xúc cá nhân. Nếu anh hướng thiện, sẽ vẽ nhiều về tính nhân văn. Anh hay ngông cuồng sẽ nổi loạn, phá phách. Anh hay than thở sẽ vẽ bất mãn. Những xu hướng sáng tác, phong cách, thái độ chính trị, thẩm mỹ văn hóa được thể hiện rất rõ trong tác phẩm. Nghệ thuật bản năng dường như không còn chỗ. Cái mà nghệ thuật đương đại hiện nay cần ở họ là một cá tính mạnh, một thái độ làm việc quyết liệt, nghiêm túc, những quan điểm tích cực sẽ tạo ra những tác phẩm lành mạnh cho xã hội.


    LÊ THIẾT CƯƠNG - Mục đồng. 1996. Bột màu. 52x77cm


    Có một điều rất rõ ràng và không thể phủ nhận vai trò của HMTVN, Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm trong việc phát hiện, kiếm tìm những gương mặt họa sĩ trẻ mới. Triển lãm mỹ thuật khu vực hàng năm thực sự là sân chơi rất tốt, nơi các họa sĩ có thể góp mặt những tác phẩm mới của mình. Hệ thống giải thưởng của Hội còn một số điểm bất cập nhưng những lý do đó rất nhỏ và không ảnh hưởng tới cục diện chung của bộ mặt mỹ thuật nước ta. Tính liên tục, tính phổ cập, phổ biến là một trong những ưu điểm rất mạnh mà HMTVN đã làm được trong 20 năm qua tại các kỳ triển lãm khu vực. Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm cũng là nơi tổ chức rất nhiều các cuộc thi mỹ thuật lớn, giải thưởng khá hấp dẫn, hội tụ phong phú bút pháp tạo hình, đa sắc khuynh hướng nghệ thuật nên các nghệ sĩ vẫn tham gia tích cực. Và nếu đoạt giải, tên tuổi của họa sĩ sẽ được nâng lên một tầm mới. Nhưng khoảng cách thời gian giữa các triển lãm (5 năm) là hơi lâu trong khi mỹ thuật đương đại hàng ngày thay đổi và trăn trở theo cuộc sống hiện đại bởi internet, facebook đã làm nghệ thuật cập nhật nhanh hơn bao giờ hết.

    Thông điệp cuộc sống cũng chính là thông điệp cá nhân là rất đúng trong thời điểm hiện tại. Thực ra nghệ sĩ nào, từ cổ chí kim khi sáng tác cũng đều gửi gắm vào đó những cảm xúc cá nhân mình. Thế hệ họa sĩ thập kỷ này đang kiếm tìm, thể nghiệm và sáng tác rất chững chạc. Tiếp xúc với các họa sĩ trẻ thấy trong đầu họ đều đầy ắp ý tưởng về sáng tác. Và hầu hết chúng đều đề cập đến con người, sự vật, hiện tượng xung quanh khoảng thời gian mà họ đang sống. Nó rất thật và rất gần. Những vấn đề nhạy cảm về giới tính cũng được đề cập thoải mái và cởi mở. Vì chủ đề gần gũi và giản dị nên ngôn ngữ tạo hình trở nên hiện thực, thông điệp đi thẳng vào các vấn đề trong cuộc sống. Những vấn đề của xã hội như thói a dua, đố kỵ, thói đạo đức giả, sĩ diện hão... đến thói “khoe khoang, phông mác ảo”, tự sướng qua mạng xã hội hiện đang được coi như một vấn nạn, như cơn nghiện chưa có hồi kết. Một số họa sĩ có cái nhìn rất hài hước về những vấn đề trên. Nó được tạo hình rất bắt mắt thị giác, đẹp, khéo và vui đến mức người xem nhìn bật cười sảng khoái rồi sau đó chua chát, rồi chua xót nhận ra rằng mình cũng có một phần trong đó.

    Một số nhóm nghệ sĩ có chung phong cách sáng tác đã được tập hợp với nhau và thành lập nhóm như Nhóm Hiện thực, Nhóm Sơn ta, nhóm Ngũ sắc... Điều này rất đáng mừng và ủng hộ.

    Internet và Facebook ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý sáng tác của các nghệ sĩ trẻ. Nhiều bức xúc cá nhân không thể giãi bày họ sẽ đưa vào tác phẩm (nhanh hơn)... ngay sau khi hoàn thành họ có thể post lên facebook và sẽ ngay lập tức nhận được sự phản hồi từ đồng nghiệp cũng như những đối tượng yêu thích hội họa khác. Điều này cho phép sự kết nối tương tác giữa nghệ sĩ và người xem như một sự đối thoại trực diện, liên tục. Ai không hiểu “ngôn ngữ hay thông điệp” có thể hỏi nghệ sĩ ngay chứ không mất thời gian “đoán già, đoán non”.


    NGUYỄN KHẮC CHINH - Tìm kiếm gương mặt thật. 2015. Sơn dầu. 195x215cm


    Họa sĩ trẻ đang có xu hướng “yêu ghét cũng rất rõ ràng”, không quá “mượn gió bẻ măng” để ăn theo những câu chuyện mang màu sắc chính trị cực đoan. Điều này khác với một số họa sĩ lớn tuổi hay “chém, bình luận, nhận xét đa phần là bất mãn về thời cuộc” nhưng “bằng lời” chứ không “bằng tác phẩm”. Nghệ sĩ trẻ ngày nay còn mải say mê khám phá, tìm tòi, tạo dựng ngôn ngữ tạo hình mới, thông điệp mới đưa vào tác phẩm. Những thái độ hằn học, bất mãn này kia không làm cho họ bận tâm nhiều. Nhiều gương mặt tiêu biểu, có tiếng nói tạo hình riêng tiêu biểu như Hoàng Duy Vàng, Vũ Bạch Liên, Thái Nhật Minh, Khổng Đỗ Tuyền, Nguyễn Khắc Chinh, Trịnh Minh Tiến, Đỗ Hiệp, Phạm Huy Thông, Ngô Bình Nhi, Lê Cù Thuần, Kù Kao Khải, Nguyễn Lương Sáng, Đặng Xuân Hiệp, Nguyễn Văn Hè, Trần Ngọc Hưng, Nguyễn Văn Bảy, Nguyễn Huy Lộc, Nguyễn Thu Hương, Phạm Tuấn Tú, Nguyễn Trà My, Lê Thị Thúy, Nông Tiến Dũng, Phạm Thái Bình, Phạm Duy Quỳnh, Đinh Minh Đông…

    Về tạo hình đã có những bước phát triển theo đúng quy trình của nó. Năm năm trở lại đây, xu hướng sắp đặt điêu khắc, sắp đặt hội họa và điêu khắc được kết hợp nhiều. Hiệu quả rất tốt. Đặc biệt là xu hướng điêu khắc sắp đặt được coi là sự kết hợp ăn ý, gây hiệu ứng tốt. Một trong những nghệ sĩ trẻ phải kể đến Thái Nhật Minh.

    Thái Nhật Minh luôn có thái độ làm việc nghiêm túc và quyết liệt với nghệ thuật dù đã có lúc rất bị hiểu nhầm. Anh luôn tạo hình tác phẩm theo cảm xúc cá nhân thời điểm đó. Những con chim bóng nhẵn, nặng nề, rất tối giản về tạo hình của Minh luôn cho người đối diện cảm giác cô đơn và cô độc. Một số người suy luận, áp lên đó những nhiệm vụ “hết sức nặng nề và quan trọng” nào là về tạo hình, nào là về thông điệp xã hội, nào là không mới, nào là ảnh hưởng nọ kia.. Và Minh cũng đã từng bị hạ giải thưởng vì những điều tiếng ấy. Thực chất, những con chim ấy thể hiện nỗi buồn chán, cô đơn, những cảm xúc mông lung khi Minh mới tốt nghiệp trường Mỹ thuật và chưa có một định hướng nào cho cuộc sống. Anh cảm thấy mình lạc lõng và mất phương hướng, rồi hàng ngày lặng lẽ nhốt mình trong xưởng đẽo, gọt những con chim to, nhỏ đầy cô độc. Khối hình con chim căng tròn, ít chi tiết do ảnh hưởng từ tạo hình sản phẩm gốm như lọ, bát đĩa, ấm chén mà đã có thời gian dài Minh đi làm thuê trước khi vào trường Mỹ thuật. Sau này, khi đã thăng bằng, ổn định cuộc sống thì những dòng ý tưởng cứ cuộn trào liên tục mà nhiều khi Minh không làm kịp. Anh luôn sáng tác theo chuỗi. Sau những Con chim cô độc, Mùa sinh sản là seri thứ hai của Minh trong đó là tính hoang dã bản năng của con vật như chó, mèo…dù đã được thuần dưỡng trong nhà nhưng đến mùa sinh sản thì bản năng của chúng lại trở về hoang sơ, nguyên vẹn… hiện tại, các tác phẩm ít khi được Minh làm kích thước lớn bởi hoàn thiện một tác phẩm điêu khắc mất rất nhiều thời gian trong khi những ý tưởng, những câu chuyện cứ kết nối mãi không ngừng, chỉ chờ để tạo thành tác phẩm…Sau Mùa sinh sản, Thái Nhật Minh đang làm seri mang tên Chinh phu và Chinh phụ, nói về nỗi buồn chiến tranh, cái day dứt, khắc khoải của người đi lính và người ở nhà... chứ không phải nơi trận mạc, khói lửa, máu chảy, đầu rơi.

    Nguyễn Khắc Chinh (1984) cũng là một cá tính nghệ thuật tiêu biểu. Chinh chọn cho mình một lối đi khá riêng biệt. Bản thân Chinh luôn có cái tâm, có ý thức giác ngộ những lời răn dạy của nhà Phật, lại có thời gian dài quan tâm đến nghệ thuật ca trù …nên Chinh đã biến trải nghiệm, cảm xúc cá nhân thành những câu chuyện. Tranh của Chinh thoạt nhìn có tạo hình đơn giản với gu màu sắc đẹp; tác phẩm có tính hệ thống. Nhưng tranh của Chinh phải xem kỹ, xem chậm, ta sẽ cảm nhận thấy mình ở đâu đó bên trong tác phẩm từ phần tâm, phần thiện chứ không đơn thuần là bề mặt thị giác. Mỗi bức tranh Chinh đều là một câu chuyện, một thông điệp gửi tới cuộc sống. Yêu, ghét rõ ràng dù có những bức xúc không thể nói thành lời, đành nén chặt lại, gửi phần nội tâm ấy qua những chi tiết trong tác phẩm bên dưới một vẻ mặt hết sức điềm tĩnh và những mảng màu nhìn xa tưởng một màu, khi nhìn kỹ, xem kỹ thấy vô vàn sắc độ bên dưới…



    PHẠM HUY THÔNG - Hy vọng. 2014. Sơn dầu. 140x160cm


    Từ cảm xúc cá nhân tới thông điệp đến nghệ thuật là cả một hành trình suy tư, trăn trở… Có thể khẳng định chắc chắn một điều, tất cả những nghệ sĩ thực thụ hầu như không có thời gian ngưng nghỉ, rong chơi nhiều. Ngày ngày họ miệt mài, nhốt mình trong studio để làm việc. Sau đó còn xem triển lãm, thi thoảng giao lưu với đồng nghiệp…nghệ sĩ nào có gia đình riêng còn ít thời gian hơn nữa. Suy nghĩ về ý tưởng, về tạo hình, màu sắc lúc nào cũng khắc khoải trong đầu. Nếu công viên chức, sau 8h làm việc công sở là nghỉ ngơi đầu óc. Nghệ sĩ trăn trở ngay cả trong giấc ngủ. Ngày mai, phải hơn ngày hôm nay. Đã tìm được lối tạo hình riêng thì lại phải đi vào tinh, vào sâu, vào kỹ thuật, chi tiết. Nếu tạo hình chưa có gì mới, tác phẩm cứ nhàn nhạt, thiếu sức sống, nghĩ đã nhiều mà vẽ vẫn chưa hay…

    Ví dụ như Phạm Huy Thông là một họa sĩ có cá tính nổi trội. Dám nói, dám thử nghiệm và dám làm. Từ việc xã hội đến việc chuyên môn Thông đều không ngại ngần tham dự và tham dự rất nhiệt tình. Bởi Thông coi họa sĩ như “một nhân chứng thời đại”, người ghi lại cuộc sống bằng tranh thay vì bằng chữ như các nhà văn. Thông suy nghĩ rất đơn giản khi sáng tác “cái gì không nói được thì thể hiện bằng nghệ thuật”. Thông luôn nhìn cuộc sống bằng con mắt đa sắc, nhiều chiều, dù tốt, dù xấu vẫn luôn nói thật. Chính vì thế tác phẩm của Thông thoạt nhìn có vẻ rất “nguy hiểm” nhưng thực ra Thông luôn cố gắng nhìn cuộc sống dưới lăng kính thân thiện và tươi sáng

    Nhìn tranh đoán tính. Nhìn tính đoán con người. Các nghệ sĩ trẻ của chúng ta hiện nay đa phần ôn hòa hơn, hòa nhã hơn nhưng cá tính hơn. Ngoài việc sáng tác cá nhân, tham gia hoạt động của HMTVN, tham dự trại sáng tác, tham gia triển lãm… họ đã biết tập hợp những người có “khuynh hướng sáng tác tương đồng” như cùng chất liệu, cùng phong cách… thành những nhóm với mục đích để hỗ trợ sáng tác, trao đổi nghề nghiệp và để bán tác phẩm. Nhờ sự trợ giúp đắc lực của sách, internet, facebook nên họ có thể xem được nhiều tác phẩm hơn, từ đó biết chắt lọc những gì phù hợp với mình. Xem nhiều sách, nhiều tranh để trau dồi cho mình một hình thức tạo hình nghệ thuật phù hợp nhất….

    Chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng ở một thế hệ họa sĩ trẻ đương đại mới với tri thức tốt, ham học hỏi, nhiều hoài bão, nhiều ước mơ, không ngại va đập, chấp nhận thử thách, đối diện thẳng với các chiều của cuộc sống để kiếm tìm những phong cách, khuynh hướng nghệ thuật từ chính những điều đang diễn ra hàng ngày gần gũi, thân quen…chứ không phải lợi dụng thời cuộc, lợi dụng chính trị hay tôn giáo để kiếm tìm một thứ danh vọng gây sốc hão huyền…

    Hoàng Anh

Share:         LinkHay.com