E-mail        Print        Font-size  
  • KHÔNG CÓ GÌ NẾU KHÔNG CÓ PHÊ BÌNH

    Nhà Phê bình Nguyễn Hưng trong một buổi nói chuyện chuyên đề được tổ chức ở Tp. Hồ Chí Minh






    Bài viết "Không có gì nếu không có phê bình" của Nhà Phê bình Nguyễn Hưng lần đầu tiên công bố trên Talaws, năm 2001. Nhưng "để tránh bị hiểu lầm, xuyên tạc, tôi đã đổi tên thành “Phê bình Mỹ thuật Việt Nam”. Nay, đã qua 15 năm, mọi chuyện nêu trong bài đã trở nên rõ ràng, chẳng sợ ai hiểu lầm, hiểu theo nghĩa xấu nứa, nên tôi quyết định lấy lại tên ban đầu. Bài này, có thể vẫn còn gây sốc cho ai đó, nhưng sự thật là như thế..." .

    Bài viết này cũng đã được in trong sách “Văn hóa Mỹ thuật Việt Nam ngày nay-từ một góc nhìn khác”, in lần đầu năm 2008) bao gồm năm phần. Nhưng do số trang của Tạp chí có hạn nên Ban Biên tập đã trao đổi với tác giả trích đăng từ phần III đến hết.

    Xin trân trọng mời quý độc giả của tạp chí Mỹ thuật theo dõi.

    Phê bình Mỹ thuật - Thà không có

    Không có gì nếu không có phê bình. Nhưng chẳng thà không có phê bình. Bởi, nếu có mà yếu kém, phê bình chỉ đẩy cơ may "có gì" của mỹ thuật Việt Nam trở nên xa vời.

    Điều này hoàn toàn dễ hiểu.

    Yếu kém, là khi phê bình không biện biệt được thế nào là nghệ thuật, thế nào là phi nghệ thuật; không phân định được thế nào là những giá trị mang tính tiên phong, độc sáng hay bác học với những gì chỉ có nghĩa là tiếp thu, ứng dụng, mang tính phổ cập hay bắt chước, nhai lại, v.v...

    Không biện biệt, phân định được những điều nói trên, phê bình trở thành một thứ ruồi nhặng gieo rắc dịch họa. Bởi đơn giản, không làm sáng tỏ được sự thật, nó đẩy người khác vào hoang tưởng, ngộ nhận; không có khả năng phát hiện và đón nhận cái mới, tiên tiến, nó đưa người khác vào vòng cương tỏa của cái cũ, lạc hậu hay cái thời thượng, giả hình v.v... và v.v...

    Phê bình mỹ thuật ở Việt Nam đang rất yếu kém. Điều này ai cũng đã thấy. Nhưng, trước sự yếu kém đó, nếu cho rằng nó không thực sự tồn tại, hư vô hóa, không đặt nó thành đối tượng để suy xét như đã kéo dài trong nhiều năm qua thì như đã nói ở trên, là một sai lầm "chết người"...

    Tuy nhiên, để làm cái công việc suy xét này, trước hết, đòi hỏi phê bình phải tự phê bình triệt để bắt đầu từ ngay nền tảng học thuật của nó. Khó khăn của sự đổi mới phê bình hiện nay, chắc chắn không phải do hoàn cảnh như nhiều người đã nói, mà chính yếu là do sự khập khiễng với khá nhiều bất cập và thái quá từ ngay nền tảng học thuật của phê bình, và có lẽ, cả thái độ trí thức của những người làm phê bình.

    Điều có thể nói ngay, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam lâu nay được triển khai trên một nền tảng học thuật đã sơ sài lại quá lạc hậu. Cho đến nay, ở mọi cấp độ - chuyên và không chuyên - vẫn một kiểu phê bình "làm sáng và làm sang" cho các họa sĩ. Căn bản, vẫn xem sáng tác là tâm tình bộc bạch, xem tác phẩm là môi trường thể hiện những khía cạnh tinh thần và nhân bản từ tư tưởng, tình cảm của tác giả, và, xem phê bình là hồi âm, diễn giải v.v... Cách nhìn, cách phê bình này thuộc truyền thống nghệ thuật lãng mạn và hiện thực chủ nghĩa, còn vướng mắc rất nhiều trong lối tư duy khái niệm hóa, xem trọng nội dung chỉ định của hình, chỉ khả thủ trong không gian của nghệ thuật lãng mạn và hiện thực chủ nghĩa. Ngày nay, mỹ thuật Việt Nam hầu như đã thay đổi hoàn toàn. Cho dù các họa sĩ có "mộng du" thì mỹ thuật Việt Nam hiện tại vẫn là một thế giới khác khá sôi động với sự ảnh hưởng của đủ các khuynh hướng nghệ thuật đến từ phương Tây, từ tiền hiện đại, hiện đại đến hậu hiện đại. Dừng lại trong nhãn quan như thế, phê bình nếu không rơi vào tình cảnh của những kẻ "nói leo", "nói lặp", "nói cố", "nói nhảm" thì cũng chẳng giúp ích được gì đáng kể cho sự phân định, biện biệt các giá trị, nhằm định hình một trật tự biểu kiến cho thế giới mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Dễ thấy. Một: khi lấy nghệ sĩ làm trung tâm, phê bình rất dễ sa vào khuynh hướng tán tụng, thù tạc, dễ mắc bẫy huyền thoại. Đa số các bài viết phê bình mỹ thuật trong nước lâu nay, vẫn cứ sa đà với chuyện các họa sĩ "vẽ cái gì?" mà rất lơ là, thậm chí mù mờ với chuyện họa sĩ "vẽ như thế nào?"... Hai: sự định vị và định giá tác giả trong nghệ thuật rất dễ trở thành mơ hồ, hàm hồ. Bởi sự đánh giá nghiêng về nội dung luôn dễ bị lôi cuốn theo các tiêu chuẩn bên ngoài nghệ thuật. Chẳng hạn: vị thế xã hội của tác giả, dư luận, mức độ thành công trên thị trường nghệ thuật. Ba: nghiêm trọng hơn, bởi xem nhẹ hình thức, cho hình thức là tuỳ phụ, nó vô tình bỏ qua các vấn đề đặc thù của tư duy thị giác, của ngôn ngữ tạo hình. Từ đó, không thể thâm nhập được thế giới phức tạp và không ngừng biến đổi của nghệ thuật hiện đại; không thể hiện đại hóa cách nhìn nghệ thuật. Trước hiện tượng không ít họa sĩ đã làm theo ngay những gì mới nhất của Tây, nhưng thực ra, chỉ bắt chước được ở dáng vẽ bên ngoài, trong căn để tinh thần vẫn là cái gì rất cũ, không có sức sống... không ít nhà phê bình hoặc chỉ biết hứ háy, phủ định sạch trơn, hoặc "tung hỏa mù" biện minh làm vui lòng các họa sĩ. Vấn đề bản chất của phong cách bị hiểu sai trước hết. Xem phong cách như một hiện tượng tách biệt - hoặc dựa vào một số thủ pháp, một số môtíp thuần tuý hình thức nào đó... hoặc ngả hẳn sang vấn đề góc nhìn, đặc điểm tư tưởng, thái độ thẩm mỹ của tác giả - thiếu tính thống nhất. Tiếp theo, ý niệm về cái mới, về tính tiên phong, độc sáng nếu không bị loại trừ, thì cũng mơ hồ. Thậm chí ngay cả các vấn đề thế nào là "dân tộc", là "hiện đại" trong nghệ thuật cũng vậy. Kết quả tai hại nhất, phê bình hoàn toàn bất lực trong việc định chuẩn cho một bản sắc Việt Nam trong mỹ thuật hiện đại và hoàn toàn bị động trong việc định hướng tiếp thu, học hỏi "người khác". Bốn: sự định hướng cho sáng tác và đào tạo dễ bị lệch sang chiều "bồi dưỡng tư tưởng", "rèn luyện đạo đức" - xem trọng cái "tâm" hơn cái "tài". Tình trạng nghiệp dư hóa của Mỹ thuật Việt Nam lâu nay và sự lúng túng của số đông họa sĩ trẻ hiện nay là hậu quả của sự định hướng lệch chiều này...


    Triển lãm hội họa Kandinsky tại Tokyo năm 1961. Bernard Dorival, nhà nghiên cứu, nhà sử học nghệ thuật, quản thủ Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật Hiện đại ở Cố cung Tokyo, đang trình bày bức tranh Cái nút đỏ (tranh sơn dầu của Kandinsky vẽ năm 1936). Ông cũng là người tổ chức triển lãm hồi cố về Kandinsky vào năm 1963.



    Trước sự yếu kém của phê bình mỹ thuật trong nước, nhiều người cho rằng "nếu là họa sĩ viết phê bình thì đáng tin hơn", hay "muốn viết phê bình hay thì phải chơi với các họa sĩ" v.v... và v.v... Đây là điều không chắc. Các họa sĩ có thể nhạy cảm hơn, nhưng thực ra, không có sự cảm nào tách rời khỏi sự hiểu, sự biết. Họ có thể rất tinh tế, sâu sắc trước các đối tượng cùng kênh, cùng hệ, nhưng chưa chắc còn giữ được tính khách quan khi tiếp cận các đối tượng khác quá mới, lạ. Sự hiểu, sự biết của các họa sĩ, thực tế, cũng nằm trên cùng một nền tảng học thuật như phê bình. Trước bối cảnh đổi mới, nhiều người trong họ đã sáng tác với trạng thái "mộng du", và khi viết phê bình, họ lại "mộng du" trên chữ nghĩa...

    Thế kỷ 20, trên thế giới, được xem là thời hoàng kim của phê bình văn học-nghệ thuật. Những thành tựu trong các ngành khoa học nhân văn và xã hội, đặc biệt, của tâm lý học và ngôn ngữ học hiện đại, đã mang lại nhiều lý thuyết mới, khả dụng cho phê bình, đổi mới hoàn toàn cách nhìn nghệ thuật, cách phê bình... Ở Việt Nam, cho đến nay, bản thân thông tin này dường như đã là cái gì hết sức xa lạ! Bao giờ phê bình mỹ thuật Việt Nam mới thực sự đổi mới?!

    Phê bình mỹ thuật với vấn đề lý thuyết - Không thể mãi bất cẩn...

    Trong bài viết ngắn về Nguyễn Sáng qua mắt nhìn Thái Bá Vân đăng trên Thể thao & Văn hóa (tháng 10 năm 2001) nhà thơ Thanh Thảo đã kết luận như đinh đóng cột - đại ý - phải thật gần, thật hiểu tác giả, nhà phê bình mới có được những câu chữ thuyết phục đến vậy! Chưa cần biết Thái Bá Vân nhìn Nguyễn Sáng đúng, sai như thế nào, nhưng điều có thể nói ngay, cái kết luận của Thanh Thảo là liều. Liều, bởi không chắc đúng. Thực tế, nhiều khi tác giả là người như thế này, nhưng tác phẩm lại như thế khác. Trong nghệ thuật, tài với đức, với ý thức công dân, với tinh thần trách nhiệm, với sách vở bồ bồ, và cả với tay nghề thuần thục v.v... chưa chắc đã có gì ăn nhập. Bám theo tác giả, nghe theo tác giả, phê bình rất dễ sa vào khuynh hướng tán tụng, thù tạc, rất dễ mắc bẫy huyền thoại. Không ít họa sĩ nổi tiếng "oan" là vì thế. Và, cho dù có rất nhiều bài viết gọi là phê bình, nhưng công chúng, số đông, vẫn không hiểu gì nhiều về mỹ thuật, vẫn cứ phải "kính nhi viễn chi" cũng là vì thế.

    Để phê bình thực sự, trước hết, cần phải tránh xa tác giả. Chỉ có một đầu mối duy nhất cần được tiếp cận: tác phẩm. Bởi, trong nghệ thuật, chỉ tác phẩm mới thực sự tồn tại. Tác phẩm "nói lên". Và, sự "nói lên" này, trong phần lớn trường hợp, vượt khỏi tầm kiểm soát của tác giả. Giữa ý thức tác giả và tác phẩm bao giờ cũng có một khoảng cách. Điều này có nguyên do. Đành rằng, tác giả là người tạo ra tác phẩm, nhưng chính hắn, lại là sản phẩm của văn hóa, của lịch sử. Có nhiều điều nằm sâu trong tiềm thức, chế định tầm nhìn, cách nhìn và ngôn ngữ của hắn, mà hắn, nếu không thường xuyên phản tỉnh trong ý thức khôi phục và bảo toàn tự do - nhân tính nơi mình sẽ chẳng hề hay biết. Không ít họa sĩ đã thừa nhận, phải rất lâu sau khi sáng tác, hay qua phê bình, mới hiểu được phần nào tác phẩm của chính mình...

    Tác phẩm "nói lên", nhưng để "nghe" được nó, quả thực, không phải là chuyện dễ dàng. Nghệ thuật khác nhau ở những vùng văn hóa khác nhau. Và khác nhau qua từng thời đại. Không hề có một tiêu chuẩn chung, một hệ qui chiếu chung, một căn cứ lý thuyết chung nào cho phê bình. Mỗi cái khác, khác nói trên đều có cơ sở mỹ học của nó. Không thể lấy các tiêu chuẩn của nghệ thuật cổ điển để xem tranh ấn tượng; không thể lấy các tiêu chuẩn của nghệ thuật hiện thực hay lãng mạn để xem tranh trừu tượng hay lập thể v.v... Nói chung, để "nghe" được tác phẩm, để có thể phê bình, ngoài sự nhạy cảm điều dứt khoát là cần phải học. Tất nhiên có nhiều cách học khác nhau, nhưng bằng cách nào thì cũng phải học thực sự. Người nào biết được nhiều lý thuyết hơn sẽ có cơ may cảm thụ tốt hơn, dễ chấp nhận cái mới lạ hơn và có khả năng diễn dịch rộng rãi hơn. Không thể thuần tuý trông cậy vào trực giác, cảm nhận. Đó là một ảo tưởng. Thực tế, không có sự cảm nào mà không tuỳ thuộc vào sự biết, sự hiểu...

    Lạ, là cho đến nay, ở Việt Nam, không chỉ riêng quảng đại quần chúng, mà ngay các họa sĩ, và cả giới phê bình, tiếp cận tác phẩm mỹ thuật, chủ yếu vẫn phải trông cậy vào trực giác, cảm nhận. Dễ thấy, bởi sự trống vắng lý thuyết hầu như hoàn toàn. Sách vở không có là chuyện đã đành, mà ngay trong môi trường đại học, kể cả nơi các trường đại học chuyên ngành, vấn đề lý thuyết vẫn là bất cập...

    Trước đây, chúng ta có nhiều lý do để an tâm bất cần lý thuyết. Trong đó, có hai lý do quan trọng: Một, là chưa ý thức đầy đủ về một sự hòa nhập thực sự vào dòng chảy mỹ thuật thế giới. Và hai, là chưa ý thức đầy đủ về những thách thức của điều kiện tự do. Nói cách khác, là chúng ta chỉ mới quanh quẩn bên nhau, gieo rắc ảo tưởng cho nhau, và bằng lòng với những ảo ảnh tự tạo, chứ chưa thực sự nhìn mình bằng cái nhìn người khác, và chưa thực sự có nhu cầu chứng minh sự tồn tại của chính mình trong mắt nhìn người khác... Đến nay, sau hơn 15 năm "mở cửa" với "đổi mới", mọi chuyện hầu như đã đến hồi ngã ngũ. Mọi ảo tưởng, ảo ảnh - như bong bóng xà phòng - đã tan biến gần hết, không còn hấp dẫn hay ru ngủ được ai nữa. Nhìn lại mỹ thuật Việt Nam mới thập niên 90 - như một phiên bản mờ nhạt của mỹ thuật phương Tây từ những thập niên 70 trở về trước - có thể nói, chỉ bằng trực giác, cảm nhận, chúng ta cùng lắm, chỉ bắt chước được người ta ở dáng vẻ bên ngoài, chứ không thể tiếp thu, học hỏi được điều gì thực sự. Chiết trung theo kiểu "bình mới, rượu cũ" đang là hình thức phổ biến ở Việt Nam. Trong nghệ thuật, chiết trung là một hình thức nguy hiểm. Nó chứng tỏ sự thay đổi cách thể hiện không đồng thời với sự thay đổi cách nhìn. Do đó, nó hư vô hóa mọi nỗ lực đổi mới. Dẫn đến hiểu sai về nghệ thuật, biến nghệ thuật thành một thứ trò chơi trang trí thuần túy. Nó có vẻ như làm mới nghệ thụât, nhưng thật ra, chỉ là sự lạc lối, làm nghèo nàn đời sống tinh thần. Ngoài ra, rất nhiều "con người mỹ thuật" trong chúng ta, dường như không sống thật. Cứ như những "người đẹp trong môi trường formol" (định hình trong một lối vẽ nào đó rồi là không dám thay đổi nữa), mà tác phẩm, chỉ là kết quả của sự "sinh sản vô tính"... Sáng tác, nhìn chung, là vậy. Công chúng, như đã biết, ngơ ngác hay quay lơ. Còn phê bình, ai cũng thấy, bao nhiêu năm đã đứng nép bên lề. Lâu lâu có vài tiếng cất lên, thì oái oăm, nếu không phải là những câu khẩu hiệu suông, cũng chỉ là những lời nói leo, nói lặp. Thậm chí, nói bậy.

    Mỹ thuật Việt Nam vẫn có thể hiện đại hóa như thường mà không cần phải theo Tây, theo Mỹ, theo Tàu. Điều này dễ được chấp nhận. Tuy nhiên, không thể vì thế mà quay lưng lại với cả thảy. Nhất là khi những sản phẩm của nó đã tràn ngập vào không gian sống, lặn sâu vào trong tiềm thức của chúng ta. Cần phải biết rõ, hiểu rõ về chúng. Đó là sự tiêu hóa. Và chỉ như vậy mới chuyển hóa được thành năng lượng thực sự để tăng trưởng, đổi mới.

    Không thể mãi bất cần lý thuyết.

    Cái kết luận của Thanh Thảo, đã dẫn, có thể, chỉ xuất phát từ quan niệm phê bình theo truyền thống hiện thực và lãng mạn chủ nghĩa khả dụng một thời, và có thể đúng trong trường hợp Thái Bá Vân. Nhưng vô tình, đã phản ánh đúng tâm trạng và suy nghĩ của không ít người viết phê bình và không ít công chúng mỹ thuật lâu nay: Để hiểu tác phẩm? - Thôi, thì hỏi tác giả cho nhanh!

    Nguyên Hưng

Share:         LinkHay.com