E-mail        Print        Font-size  
  • Câu chuyện của 30 năm đổi mới

    PHAN CẨM THƯỢNG - Đường đi lấy kinh. 2015-2016. Sơn khắc. 120x180cm




    Hoạt động nghệ thuật trước và sau Đổi mới

    Mười ba tác phẩm được nhà nước đặt hàng, bầy trong Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam, 2015, vừa qua cho thấy những cố gắng cuối cùng của nghệ thuật được bao cấp. Nhưng hầu hết các tác phẩm đều xoàng xĩnh, không nêu được bất cứ vấn đề gì của cuộc chiến tranh chống Mỹ trước kia. Một sự bao cấp kéo quá dài cho thấy nghệ thuật được sinh ra theo một cách thức khác, mà nghệ sỹ cần tự do hơn là bất cứ gì khác.

    Nhìn lại, trước thời kỳ Đổi mới, lấy cái mốc là năm 1987/1988, không phải là giai đoạn chiến tranh và Bao cấp chúng ta có ít tác phẩm nghệ thuật có giá trị, nếu như nghệ sỹ ý thức được vai trò và nhận thức của cá nhân mình với đời sống xã hội, nhưng cũng không có ít các tác phẩm tầm tầm trung trung, mà nói như Hoàng Ngọc Hiến - Một thứ văn nghệ phải đạo, nghĩa là nội dung và hình thức tác phẩm được làm ra theo một khuôn mẫu nhất định, ta thắng địch thua, người tốt việc tốt. Đối với mỹ thuật giai đoạn đó, nổi bật ở sự định hướng sáng tác của nhà nước, nhà nước thông qua hội đoàn lo vật liệu và lương cho nghệ sỹ, trưng bầy và mua tác phẩm - một vòng tròn khép kín rất tiện cho các nghệ sỹ công chức và không có nhiều mong muốn thể hiện cá tính của mình.

    Công cuộc Đổi mới trước tiên do những động lực xã hội, nhất là về kinh tế, năng xuất lao động thấp kém, hàng hóa khan hiếm, lương thực thiếu... và rất nhiều hậu quả sau chiến tranh để lại chưa được giải quyết, cộng thêm sự tan ra của Chủ nghĩa Xã hội Đông Âu, tác động không nhỏ đến tinh thần người Việt Nam. Việc bỏ ngăn sông cấm chợ là bước đầu tiên mở ra đời sống thị trường và dường như ngay lập tức giải quyết được việc thiếu đói lương thực trong hai năm 1987/1988. Đối với họa sỹ việc từ bỏ Bao cấp là một động lực lớn thúc đẩy sáng tác và thị trường nghệ thuật bắt đầu mở ra. Hàng loạt họa sỹ xin thôi khỏi biên chế nhà nước, hoàn toàn sống bằng tự lực sáng tác và làm nghề trang trí kẻ vẽ cũng là nhu cầu của xã hội bắt đầu có quảng cáo.

    Trước kia vai trò của hội Mỹ thuật Việt Nam rất lớn. Hội duyệt tranh, quyết định tác phẩm nào được treo hoặc không, hội cung cấp vật liệu và tổ chức triển lãm cho họa sỹ, hội cũng tham gia vào hội đồng nghệ thuật với bảo tàng Mỹ thuật mua tranh, thậm chí hội cũng có một sưu tập riêng. Nghĩa là việc hoạt động nghệ thuật của cá nhân nghệ sỹ được quyết định bởi hội. Cho đến hơn mười năm sau (1988 - 1998) vai trò của hội Mỹ thuật vẫn còn lớn, khi làm thủ tục giấy tờ cho nghệ sỹ đi triển lãm nước ngoài, một hoạt động mới, dường như không có ở thời Bao cấp. Đổi mới thay đổi hẳn cơ chế này. Các sở văn hóa sẽ quyết định duyệt tác phẩm và cấp giấy phép triển lãm, còn sau đó triển lãm thế nào hoàn toàn do nghệ sỹ tự lo. Hội cũng không bao cấp về vật liệu và đóng vai trò tư vấn mua tranh nữa, trên thực tế, thì từ sau Đổi mới việc mua tranh của bảo tàng Mỹ thuật là hãn hữu, thay vì một thị trường sôi động từng ngày với 200 gallery trong toàn quốc và hơn 200 triển lãm (chủ yếu là triển lãm hội họa) một năm. Việc Hội Mỹ thuật và cơ quan không còn là chỗ dựa cho nghệ sỹ nữa, có thể khó khăn cho một số người, nhất là lực lượng sáng tác tại các địa phương, thì lại kích thích số đông nghệ sỹ ở thành phố buộc phải tự lo cho mình, một số nghệ sỹ tiền phong chỉ cần có vậy. Từ nay, không có định hướng sáng tác, không có bao cấp, nhưng sự xét duyệt thì vẫn còn, nhưng được xác định rõ các tiêu chí giữa nghệ thuật đem ra công bố với các nguyên tắc xã hội.


    THÀNH CHƯƠNG - Tuổi thơ tôi. Sơn mài. 200x250cm


    Ở thời điểm Đổi mới và đến những năm 1990, nhiều tổ chức và gallery nước ngoài vào Việt Nam, tổ chức các triển lãm giao lưu và thương mại ở các nước Đông Nam Á, và Âu Mỹ. Hội họa trở thành chiếc cầu nối văn hóa giới thiệu văn hóa Việt Nam sau chiến tranh, bởi cách thức của nó gọn nhẹ, có tính cá nhân và dù gì thì bức tranh cũng là cái đẹp đầu tiên, sau đó mới đến tư tưởng. Hầu hết các họa sỹ Việt Nam không đánh giá được những vấn đề cơ bản của những cuộc giao lưu ban đầu, họ không biết gallery mời mình có thứ bậc thế nào trên thị trường nghệ thuật, cũng như các tổ chức văn hóa nước ngoài, hầu hết mang tính cá nhân, có vai trò thế nào trong trường nghệ thuật. Trừ một vài triển lãm được coi là có tầm cỡ, thì hầu hết chỉ là những triển lãm ở quy mô thương mại nhỏ, giới thiệu văn hóa đơn giản và không được giới nghệ thuật và phê bình nước ngoài đụng đến. Giá tranh Việt Nam nhanh chóng được quy định ở tầm rất thấp, thậm chí là từ đó đến nay, thay đổi rất ít, từ vài trăm đến vài ngàn đô la, trong khi, những đồng nghiệp tương tự có tên tuổi ở Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia đã lên tới từ vài trăm ngàn đến triệu đô la.

    Trong suốt 25 năm qua, quan hệ trao đổi nghệ thuật và triển lãm với nước ngoài, nhưng hầu như giới nghiên cứu hội đoàn trong nước không tổng kết đánh giá, báo chí được cung cấp rất ít thông tin, trừ một số công bố cá nhân, một điều dễ thấy là những gì không liên quan trực tiếp đến hội và cơ quan mỹ thuật, thì không một ai trong các cơ quan đó hỏi đến. Hàng chục cuốn sách, hàng ngàn bài báo nước ngoài về nghệ thuật Việt Nam của các học giả, nhà phê bình trong ngoài nước nhưng hầu như trong nước không ai đọc, ít nhất là xem người ta nghĩ gì về mình. Tình hình đó hình thành những luồng hoạt động nghệ thuật khác nhau, cùng thời, nhưng ít mối liên hệ và trao đổi. Các họa sỹ ngày càng ra nước ngoài triển lãm, dự workshop nhiều hơn và không muốn quan tâm đến hoạt động trong nước, nhất là các triển lãm khu vực, thậm chí là triển lãm toàn quốc, ngược lại hội Mỹ thuật từ chỗ là nơi tập hợp các nghệ sỹ hàng đầu cuối cùng lại trở thành nơi tổ chức triển lãm phong trào quần chúng, phát những giải thưởng vặt cho những sáng tác nghiệp dư, những bài học dở dang của trường Mỹ thuật. Sự không quan tâm đến hoạt động nghệ thuật trong nước lại làm cho các nghệ sỹ đương đại mất đi nguồn văn hóa bản địa, hơi thở hàng ngày của cuộc sống, mà mang nhiều tính đối đãi cho những người duyệt dự án. Và kết quả là người phương Tây đã đánh giá nó như là thứ nghệ thuật ngoại biên (với nghệ thuật đương đại phương Tây), và nghệ thuật đại sứ quán (Embassy Art).

    Mặc dù thương mại nghệ thuật đã có ít nhất từ những năm 1990 - 2000, nhưng một thị trường theo đúng nghĩa vẫn không phát triển. Cho đến những năm 2015, thị trường nội địa vẫn manh nha. Có những nhà sưu tập, nhưng không hẳn vì yêu và bảo tồn nghệ thuật mà vì kinh doanh. Nên những ai bán được, nhất là các họa sỹ của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được chú ý nhiều hơn, các họa sỹ trẻ và đương thời khó khăn hơn để bán tác phẩm, từ đó xuất hiện việc làm tranh giả với nhiều cách thức khác nhau, đến mức có thể hủy hoại nghệ thuật của một họa sỹ danh tiếng. Ví dụ trường hợp Bùi Xuân Phái và tranh giả đã tới mức hiện nay dường như không thể nghiên cứu hay làm gì cho ông, ngoài nói về ký ức.


    NGUYỄN TRUNG - Ma. Acrylic. (180x145cm)x2


    Giai đoạn 1990 - 2000, đặc biệt từ 1993 - 1996, là thời gian vàng của thị trường nghệ thuật, hầu như ai cũng bán được tranh và bán được rất nhiều, sau đó năm 1997, châu Á rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều người lại phải bán tháo bộ sưu tập của mình, thị trường tranh chững lại, nhưng nguyên nhân lớn lại do các họa sỹ tự lặp lại mình và cạn kiệt những cảm xúc chân thành của thời Chiến tranh và Bao cấp. Mốc năm 1996, vừa là đỉnh cao, vừa là cái dốc mà nghệ thuật Việt Nam trượt dài xuống đó. Năm 1996, chúng tôi đã đưa ra nhận định này trong nghiên cứu: Thoái trào nghệ thuật, và bị toàn bộ giới mỹ thuật phản đối dữ dội. Sự thoái trào biểu hiện ở chỗ: Hàng loạt tác phẩm quý từ đầu thế kỷ đến thời điểm đó bị vơ vét đưa ra nước ngoài với giá rẻ, ký ức chiến tranh và thời Bao cấp gian khó không còn là nguồn cảm xúc, các nghệ sỹ lặp lại mình, việc kiếm được quá nhiều tiền so với thời gian khó trước làm suy đồi nghệ thuật, mất bản lĩnh sáng tác, chủ nghĩa Hiện đại (Modern Art) và nghệ thuật truyền thống được khai thác một cách hình thức, không tiếp xúc được với chính giới nghệ thuật nước ngoài, không hình thành thị trường nội địa, nghệ sỹ thờ ơ với đời sống xã hội thực tại, học vấn của nghệ sỹ thiếu hệ thống và thiếu liên hệ liên ngành.

    Từ nền kinh tế Bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngay từ đầu, nghệ thuật vẫn được coi là hoạt động tinh thần, nhà nước không bao cấp hoàn toàn như trước, mà chỉ hỗ trợ từng phần. Khu vực nhà xuất bản, tạp chí của hội Mỹ thuật tư lo phát hành và lương, trở thành cơ quan sự nghiệp có thu, kinh phí hỗ trợ chỉ có ở vài công trình cụ thể, như sách cho một họa sỹ nào đó được bộ Văn hóa hỗ trợ một phần tiền xuất bản. Nhà triển lãm các nghệ sỹ phải thuê phòng, cũng như tự triển lãm bên ngoài, số tiền tài trợ sáng tác chia đều ra còn rất ít, ở mức dưới mười triệu đồng. Trong thời gian bán được tranh, nhiều họa sỹ đã xây dựng được studio, có người còn xây được bảo tàng cá nhân, trang trại... đó là bước nhẩy vọt so với đời sống của các họa sỹ thời Bao cấp. Nhưng nghệ thuật vẫn chưa được xác định là một phần của kinh tế, tự thân nó có thể trở thành một ngành kinh doanh, như trên thực tế có manh nha. Ở các lĩnh vực khác như âm nhạc, văn học thị trường đã trở nên rõ ràng, nhưng khu vực ấn loát sách do cơ chế quản lý ngay từ đầu rất mơ hồ và yếu kém, nên thị trường sách lậu, sách giả, và sau này là internet ăn hết phần của nhà văn, nhà nghiên cứu. Trung tâm bảo vệ bản quyền âm nhạc của nhạc sỹ Phó Đức Phương hoạt động có hiệu quả gỡ lại cho người sáng tác những quyền lợi mà các bản nhạc trước kia vẫn bị sử dụng miễn phí. Mỹ thuật có đặc thù độc bản, nay trở thành miếng bánh ngon cho đủ các kiểu sao chép, tranh giả, tranh nhái... không chỉ ở trong nước, mà hiện nay có cả từ nước ngoài với chất lượng rất cao và vô cùng khó phân biệt. Nghệ sỹ có thể bán được tác phẩm, nhưng không bảo vệ được quyền lợi của mình, nhà nước cũng không thu được thuế, ít nhất so với ngành biểu diễn trong âm nhạc. Mấu chốt là cơ chế hành nghề chuyên nghiệp và luật hoạt động kinh doanh nghệ thuật vẫn chưa có, trong khi sự xét duyệt đưa cả về sở văn hóa, mà một người ở đó, dù có chuyên môn cũng không thể quán xuyến hết thông tin nghệ thuật, mà phân biệt được triển lãm thật hay giả, tốt hay không tốt, mà tiêu chí đưa ra chỉ đơn giản là không vi phạm chính sách nhà nước, không đi trái thuần phong mỹ tục. Những gì, người xét duyệt không hiểu được, thường rất mất thời gian để giải trình, và cũng vô cùng khó khăn để tổ chức một triển lãm từ nước ngoài vào Việt Nam. Những cuộc giao lưu thành ra là một chiều, hầu hết triển lãm, đi thăm quan, hội thảo do bên ngoài bỏ tiền, lo cho các nghệ sỹ Việt Nam ăn ở, trưng bầy. Cái tình thế một chiều đó, dẫn đến sự thụ động, giống hệt như trong nước, đi dự hội thảo khoa học phải có ăn trưa, phong bì mới đi, và đến nơi cũng chẳng biết nói gì, vì không hề có nghiên cứu tự thân nào. Kết quả sau 25 vừa qua, những gương mặt phê bình nghiên cứu không hề thay đổi, hoàn toàn là những người từ ban đầu của cuộc Đổi mới, trong khi nghệ thuật có sự thay đổi liên tục đã đến những người sinh năm 1990 tham gia vào cuộc chơi Đương đại, mà không xuất hiện một nhà phê bình nào khác hơn.

    Nghệ sỹ trong xã hội Chiến tranh và Bao cấp, trước tiên là người công chức, người lính. Họ ăn lương và phục vụ các nhiệm vụ chính trị có liên quan đến mỹ thuật, sáng tác là việc riêng của họ, nếu có thì tốt, không có cũng không sao. Ngay cả những bức vẽ cá nhân, nếu đem ra triển lãm cũng bị kiểm soát ngặt nghèo cho phù hợp với mục đích chính trị chung, thành thử, mỗi nghệ sỹ hình thành việc tự kiểm duyệt cho bản thân mình trước. Cuộc Đổi mới, nhìn chung đã giải phóng cho nghệ sỹ cái nhiệm vụ chính trị xã hội đó, cũng đồng thời chấp nhận việc sáng tác đa phong cách và tha hồ khai thác các nguồn ảnh hưởng trong ngoài nước, các chủ nghĩa, học thuyết trong nghệ thuật xưa kia bị phê phán, và rút gọn về ba điều cấm: Không đi ngược đường lối của Đảng và nhà nước, không phân biệt chủng tộc và không tuyên truyền văn hóa đồi trụy. Trên thực tế thì với ba điều này, nghệ thuật đã tự do hơn trước thời Bao cấp rất nhiều, ít nhất là xóa bỏ sự bao cấp tinh thần, nhưng sự phản biện xã hội của nghệ thuật luôn là vấn đề nhậy cảm, lúc được lúc không. Ví dụ trong phim ảnh sân khấu, người ta có quy ước không thành văn bản công chức không được phê quá thứ trưởng, công an không được quá đại úy. Mỹ thuật là một ngành có đặc thù ngôn ngữ khác, nó không thể diễn tả quá trình như vậy, nhưng mọi biểu hiện quá khích và những thể nghiệm quá mới đều phải dè chừng, và như trên đã nói điều gì mà người cấp phép không hiểu thì không cấp phép. Sắp đặt, Trình diễn và Video Art là ba loại hình nghệ thuật Đương đại có manh nha từ những năm 1993/1996, mang tính chất nhỏ lẻ, thử nghiệm, nhưng hầu hết các cuộc trưng bầy rất khó khăn để được cấp phép, vì ít nhất người ta không hiểu chúng có phải là nghệ thuật không. Sắp đặt (Installation) đến nay đã thành bình thường, nhưng Video art và Video arc (các quay phim về trình diễn) và Trình diễn (Peformance) vẫn còn bị nhiều thành kiến, vì nguyên liệu của chúng mang hơi thở xã hội hiện tại và trực tiếp.


    ĐẶNG XUÂN HÒA - Rằm tháng bảy. Sơn dầu. 90x190cm


    Không làm công chức ăn lương, nhưng thị trường nghệ thuật hết sức phập phù và chủ yếu không hình thành được thị trường nội địa, đời sống của nghệ sỹ hết sức khó khăn. Việc bán tác phẩm suy giảm từ năm 1997 - 2006, từ năm 2006 - 2015, gần như là mười năm cơm nắm muối vừng của giới sáng tác, cho đến nay, đang manh nha phất lên một thị trường trong nước, với nhiều nhà sưu tập mới, mong muốn có những tác phẩm chất lượng, của những người sáng tác có tên tuổi, không nhất thiết là các họa sỹ trường Mỹ thuật Đông Dương. Nhiều khách sạn cũng đặt vẽ tranh trang trí giá rẻ, mức giá từ 3 - 5 triệu đồng, và cũng thường chọn họa sỹ có tên nhất định, chứ không mua tranh vô chủ ngoài các hiệu chép tranh. Đây cũng là vấn đề mới, vừa tốt vừa không tốt, vì những công việc kiểu này cũng làm suy thoái sáng tác một cách vô ý thức.

    Thời điểm Đổi mới đã mở ra rất nhanh việc khai thác đa phương chủ nghĩa Hiện đại (Modern Art) nhưng cũng kết thúc nhanh chóng chủ nghĩa đó để chuyển sang nghệ thuật Đương đại (Contemporary Art) của những người trẻ hơn, vì ít nhất toàn bộ châu Á đã sang giai đoạn Đương đại từ những năm 1980/1990 rồi, và các nghệ thuật Đương đại cũng có khả năng nói được nhiều hơn, trực diện hơn các vấn đề xã hội, cũng như khả năng kết nối cộng đồng nghệ sỹ. Vai trò của thành phố toàn cầu và nghệ sỹ lưu trú, nghệ sỹ toàn cầu đang nổi lên thay thế những cách thức hình thành nghệ sỹ sắc tộc và quốc gia vùng trước kia trong thời đại internet và toàn cầu hóa, song song với những vấn đề cơ bản nhất của con người vẫn còn nguyên đó với chiến tranh, thảm họa môi trường và hố sâu ngăn cách giầu nghèo rộng ra chưa từng thấy.

    Phan Cẩm Thượng

Share:         LinkHay.com