E-mail        Print        Font-size  
  • TÁI TẠO CŨNG LÀ NGƯỜI, SÁNG TẠO CŨNG LÀ NGƯỜI







     

    Mấy ý kiến trao đổi với họa sĩ Nguyễn Đình Đăng

    Bài viết của họa sĩ Nguyễn Đình Đăng (N.Đ.Đ), với tiêu đề “Nghệ sĩ non tay bắt chước, nghệ sĩ lão luyện ăn cắp” (Tạp chí Mỹ thuật số 269+270, tháng 5-6/2015), về căn bản, là một bộ sưu tập các tác phẩm mang tính “đối thoại” của nghệ thuật xưa nay, giữa người đi sau với người đi trước, chẳng hạn giữa Leonardo da Vinci với Giacomo Andrea, giữa Manet với Raphael, Giorgione, Titian, hoặc giữa Salvador Dalí với Salvator Rosa...

    Việc tác giả N.Đ.Đ mượn một câu của Eliot (nhà thơ đoạt giải Nobel 1948) để đặt tiêu đề với các từ “bắt chước”, “ăn cắp”, thực ra, cũng chỉ là một cách nói khác về “tính đối thoại” của nghệ thuật.

    “Cái nợ văn chương trả trả... vay”.

    Vấn đề này từ lâu đã được nghiên cứu nhiều, với vô vàn ví dụ xác đáng, lý thú - và đã trở thành cơ sở nền tảng cho một phương pháp sáng tác mới. Đó là “nghệ thuật tái dụng”.

    Dưới đây là ba ý kiến trao đổi lại với tác giả N.Đ.Đ.

    Thứ nhất: Về một vài ví dụ “đối sánh” thiếu sức thuyết phục.

    1. Nếu chỉ lấy hai góc độ của “Belvedere torso” (phần thân còn sót lại của tượng Belvedere) để so sánh với hình hai nhân vật (trong số hàng trăm nhân vật) trên bích họa Sistine - và nói: “Michelangelo đã dựa vào bức tượng này để vẽ nhiều hình người trong bích họa Sistine” - thì quả thực người nói đã quên mất rằng: Michelangelo, về căn bản, là một nhà điêu khắc đại thiên tài; trước khi vẽ bích họa Sistine, ông đã từng là tác giả của những kiệt tác điêu khắc như Pietà, David, Moise... Nghệ thuật của Michelangelo không có gì có thể sánh được, cả về tính độc đáo lẫn sức mạnh của quan niệm (xem minh họa).


      
    Hình bên trái: Belvedere torso (phần thân còn sót lại của tượng Belvedere).
    Hai hình bên phải: Tượng David (sáng tác từ 1501 - 1504) và một nhân vật trong bích họa Sistine (sáng tác từ 1537 - 1541) của Michelangelo. Hai hình này cho thấy một phong cách tạo hình thống nhất của Michelangelo, cho dù là điêu khắc hay hội họa. Chúng khác xa so với Belvedere torso mà tác giả Nguyễn Đình Đăng đã dẫn ra để so sánh.



    2. Đặt bức tranh “Cậu bé dắt ngựa” của Picasso bên cạnh ảnh chụp một “kouros” - và nói “Picasso thuổng tượng kouros Hy Lạp” - cũng là thiếu căn cứ.

    Trên thực tế, “cậu bé dắt ngựa” - là một nhân vật có thật, cậu ta sống cạnh xưởng họa của Picasso (thời kỳ 1901-1906). Đây cũng là người mẫu để Picasso vẽ tranh “Cậu bé cầm tẩu thuốc” (xem minh họa).

    Hình của nhân vật trong “Cậu bé dắt ngựa” là hình xuất phát từ “hiện thực” (cho dù là “hiện thực nhận thức”), không thể đem so với mẫu hình “lý tưởng hóa”, “khái niệm hóa” của Hy Lạp cổ đại được.

    3. Picasso từng nói: “Nếu bây giờ Raphael xuất hiện trở lại, với những bài tủ của ông, thì sẽ chẳng có ai mua, thậm chí chẳng ai buồn xem chúng”.

    Thời kỳ lam của Picasso diễn ra rất nhanh, chỉ trong hai ba năm đầu sau khi ông đến Paris, nhưng số lượng tác phẩm của ông ở thời kỳ này rất lớn, chúng đều bám vào đề tài “con người và đời sống xã hội đương thời”, và được thể hiện theo một hệ thống thẩm mỹ riêng biệt của Picasso (khi chỉ với bảng màu gần như đơn sắc, Picasso đã tiến tới nghệ thuật trừu tượng hóa ở trình độ đỉnh cao).

    Đặt tranh “Người đàn bà dưới ánh trăng” của Picasso vẽ thời kỳ lam bên cạnh “Chân dung Raphael” của Raimondi (một họa sĩ chuyên khắc tranh theo tác phẩm của Raphael) - để dẫn người đọc vào mối liên tưởng rằng “Picasso lấy cảm hứng từ hàng loạt các bậc thầy Phục hưng, Baroque” - là quá xa xôi, viển vông. Sự thật thì hai bức tranh này hoàn toàn khác nhau (xem minh họa).



       
    Hai hình trên là cặp so sánh của tác giả Nguyễn Đình Đăng: “Cậu bé dắt ngựa” (1905-1906) của Picasso và một “kouros” của Hy Lạp.
    Ba hình dưới: “Cậu bé cầm tẩu thuốc” (1905) của Picasso và hai hình chi tiết để chứng minh hai bức tranh vẽ cùng một người mẫu, với dáng vẻ và thần thái sống động của con người thật.



    Ý kiến thứ hai: Về Manet và chủ nghĩa ấn tượng.

    Tác giả N.Đ.Đ viết: “... khi Edouard Manet ‘vay mượn’ Titian cho vào bức ‘Olympia’ của mình thì Venus đã được thay bằng một cô gái điếm. Olympia của Manet giống Vệ Nữ từ thế nằm, đến chăn gối và nền phía sau, nhưng nếu so hòa sắc, hình hoạ và kỹ thuật sơn dầu thì Olympia của Manet là một thất bại thảm hại. Manet là một danh hoạ theo nghĩa ông là tiền bối của trào lưu ấn tượng - trào lưu mở đầu mạt kỳ của hội hoạ, song liệu có thể coi Manet là một bậc thầy vĩ đại trong hội hoạ không? Câu trả lời của tôi là không.”

    Manet là một trong những người cha của chủ nghĩa ấn tượng và nghệ thuật hiện đại. Ông cũng là bạn của nhà văn Emile Zola và nhà thơ Mallarmé.

    Năm 1867, một nghiên cứu sâu sắc nhất về nghệ thuật của Manet đã xuất hiện trên tờ “Revue de XIX siècle”, có chữ ký của Zola, dài 23 trang, với tiêu đề: “Một phong cách mới trong hội họa: Ngài Edouard Manet”.

    Không biết tác giả N.Đ.Đ lấy tư liệu ở đâu để khẳng định: hình tượng “Olympia” trong tác phẩm của Manet là “một cô gái điếm” ?!

    Trên thực tế, Manet đã “đặt” cô người mẫu - Victorine Meurend - vào ít nhất ba bức tranh của ông: “Bữa ăn trên cỏ”, “Người thổi sáo” và “Olympia” (xem minh họa).

    Dễ dàng nhận ra “Olympia” của Manet là tác phẩm được gợi hứng từ Goya, nhất là từ “Venus d’Urbin” của Titian, nhưng dù vậy “Olympia” vẫn là một trong những tác phẩm lớn nhất của Manet và của cả thời đại ông.

    Ngược lại với ý kiến cho rằng: với “Olympia” của Manet, “nghệ thuật đã rơi xuống điểm vô giá trị không đáng để chê bai” - Baudelaire đã viết cho Manet: “Anh có tin rằng anh tài năng hơn cả Chateaubriand và Wagner? Vậy mà người ta đã từng kịch liệt chế giễu họ. Họ không chết”.

    Năm 1907, thủ tướng Pháp Clémenceau đã đồng ý chuyển “Olympia” của Manet vào Bảo tàng Louvre, trưng bày đối diện với “Odalisque” của Ingres, trong gian Đẳng cấp. Việc tác giả N.Đ.Đ so sánh (về hòa sắc, hình họa và kỹ thuật) của Manet trong “Olympia” với Titian trong “Venus d’Urbin” - là hai tác phẩm vẽ cách nhau đến 325 năm – để nói Manet “thất bại thảm hại” - có thể là một sơ suất của tác giả N.Đ.Đ, cũng giống như khi N.Đ.Đ nói: “trào lưu ấn tượng - trào lưu mở đầu mạt kỳ của hội họa”.

    Chủ nghĩa ấn tượng, hay còn được gọi là cuộc cách mạng ấn tượng - đã có tác động tới toàn bộ nền nghệ thuật nhân loại. Chủ nghĩa ấn tượng cũng đã được xem là một bước ngoặt về kỹ thuật vẽ sơn dầu, nó đã kết thúc thời kỳ ảm đạm nhất của kỹ thuật vẽ sơn dầu kéo dài suốt thế kỷ 18, và đã tạo ra những tiền đề mới để hội họa sơn dầu hướng tới mục tiêu bác bỏ truyền thống về ảo giác không gian. Người ta đã ví 60 năm (1860-1920) hoạt động chính thức của chủ nghĩa ấn tượng với 400 năm ảnh hưởng của Raphael trước đó.

    Chủ nghĩa ấn tượng, theo Chagall, có thể tóm gọn trong hai chữ: “Tự do - Ánh sáng”.

    Nếu một ai đó không thích Manet, Monet, Renoir, không thích Cézanne, Gauguin, Van Gogh, không thích Picasso, Matisse... - thì người ấy vẫn còn có Bouguereau, Bonnat hay Léon Jérome, các họa sĩ bậc thầy của “nghề nghiệp trau chuốt” - để thích.


    Ý kiến thứ ba: Về thượng đế

    Ngày nay, các nhà khoa học hay nhắc đến Thượng đế, còn các nhà truyền giáo lại hay nhắc đến khoa học. Điều này phản ánh sự bế tắc nào đó có thật của cả khoa học và tôn giáo. Tác giả N.Đ.Đ viết: “...tái tạo là bản chất của nghệ sĩ nói riêng và nhân loại nói chung. Nghệ sĩ là kẻ trần tục chỉ đơn thuần bắt chước Thượng đế. Chỉ có Thượng đế mới sáng tạo và là đấng duy nhất thực sự sáng tạo. Man Ray đã đúng khi ông nói: Sáng tạo là siêu phàm, còn tái tạo là người”.

        
    Ba hình trên là ba tác phẩm của Manet: “Olympia” (1863) , “Bữa ăn trên cỏ” (1863), “Người thổi sáo” (1866).

         
    Ba hình dưới là ba hình chi tiết khuôn mặt của người mẫu Victorine Meurend. Người ta có thể thấy hình mẫu “hiện đại” và “rất Pháp” đã được Manet thể hiện. Riêng bức “Người thổi sáo”, Manet vẽ một nhân vật “nam” thiếu niên, nhưng khuôn mặt vẫn giống hệt người mẫu nữ Victorine Meurend. Renoir đã vẽ một hình họa phỏng theo bức tranh này của Manet. Những hình tượng mà người mẫu Victorine Meurend nhập vào các bức tranh của Manet là những biểu tượng “thanh cao” của thời hiện đại, không thể có “một cô gái điếm” trong tác phẩm “Olympia” của Manet như tác giả Nguyễn Đình Đăng nói.




        

    Hai hình trên là cặp so sánh của tác giả Nguyễn Đình Đăng: “Chân dung Raphael” của Raimondi và “Người đàn bà dưới ánh trăng” của Picasso.
     Ba hình dưới là ba tác phẩm khác ở thời kỳ lam của Picasso. Cùng với “Người đàn bà dưới ánh trăng”, dễ dàng thấy một hệ thống thẩm mỹ riêng biệt đã được Picasso rút ra từ con người và cuộc sống đương thời.


    Trong nghệ thuật, biểu hiện “tính toàn năng” của Thượng đế chính là “thiên nhiên”.

    Để trả lời câu hỏi: Hội họa của Pollock có dựa vào thiên nhiên hay không? Pollock đã tự vỗ vào ngực mình, rồi nói: Đây, thiên nhiên!!

    Có một định nghĩa, mà theo Van Gogh - đó là định nghĩa tuyệt vời nhất về nghệ thuật - định nghĩa của Francis Bacon (1561-1626): “Nghệ thuật là con người thêm vào thiên nhiên” (nguyên văn: homo additus naturae). Oscar Wilde cũng từng nói: “Nghệ thuật chỉ bắt đầu ở nơi sự mô phỏng [thiên nhiên] kết thúc” (nguyên văn: Art only begins where imitation ends).

    Hai câu nói trên, vô hình trung, đều đã định ra ranh giới trong sáng tạo nghệ thuật: một bên là thiên nhiên (Thượng đế), một bên là con người, và sự “tái tạo” của con người chính là ranh giới đó.

    Thượng đế, thiên nhiên đã sáng tạo ra hằng hà sa số “hình tròn”, nhưng “cái bánh xe” là sáng tạo của con người.


    Hà Nhì

Share:         LinkHay.com