E-mail        Print        Font-size  
  • MỸ THUẬT VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA HIỆN NAY


    PHẠM LUẬN - Ma nơ canh. 2013. Sơn dầu trên vải. 110x130cm





    Vietnamese artists … waiting, waiting, waiting…

    Nghệ sỹ Việt Nam … chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi…

    (Veronica, nghệ sỹ Đức)

    Khái niệm mỹ thuật mới được dùng ở nước ta hơn 100 năm qua, tính từ đầu thế kỷ 20. Khái niệm này hiện nay trên toàn thế giới đã thay đổi, từ fine art (nghệ thuật đẹp) - mỹ thuật, sang từ nghệ thuật (thuần túy), rồi nghệ thuật thị giác (visual art) có tính mở rộng, không chỉ giới hạn trong các ngành điêu khắc, hội họa, đồ họa, mà có cả nhiếp ảnh, điện ảnh, sân khấu, trình diễn, sắp đặt, video art. Trong các trường nghệ thuật thị giác có tất cả các môn trên, thu hẹp lại thì ít nhất có điêu khắc, hội họa, đồ họa, design, trình diễn, sắp đặt, video art. Hiện nay còn ra thêm các ngành đa phương tiện - munti media và digital art (nghệ thuật kỹ thuật số). Nghĩa là khoa học công nghệ mở rộng đến đâu, thì nghệ thuật mở rộng đến đó, không hạn chế gì cả.

    Nhìn vào xã hội Việt Nam, đáng nhẽ được hưởng lợi chung từ các thành tựu công nghệ và nghệ thuật nhân loại, thì người Việt, nhất là các nghệ sỹ luôn co lại, thấy cái gì không theo thói quen của mình thì chống lại, thậm chí không coi đó là nghệ thuật. Nhưng thực ra chẳng ai cưỡng lại được sự phát triển và tiến bộ, nhất là khi những nghệ thuật mới thực ra chỉ là hình thức, kỹ thuật mới, mọi nghệ sỹ có thể sử dụng làm phong phú thêm sáng tác của mình. Khi ngôi nhà cũ quá chật chội, những ngôi nhà mới được dựng lên, thì tên tuổi của nó cũng thay đổi.

    Design là ngành chi phối toàn bộ thế giới hiện nay và thay đổi liên tục nhất, vốn khái niệm đó được dịch là thiết kế. Design công nghiệp được dịch là Thiết kế Mỹ thuật công nghiệp. Nhưng từ thiết kế chỉ là động từ, trong đó design bao hàm cả khái niệm kỹ thuật, kinh tế, thẩm mỹ. Nó vừa là động từ vừa là danh từ, như người ta nói: tôi design ra một design để tạo nên một design. Khái niệm thiết kế đồ họa (Graphic design) cũng thay đổi đến tận gốc, thành thiết kế giao tiếp thị giác (Visual communication design) và hiện chỉ còn là thiết kế giao tiếp (Communication design). Ví dụ cụ thể là thay vì một cái tranh áp phích dán ở ngoài đường, người ta dựng lên một bảng thông tin điện tử, nhiều hình ảnh, đa chiều, thay đổi và có âm thanh, trong khi đồ họa chỉ là một thứ hai chiều tĩnh. Khái niệm này được thế giới thống nhất trong hội nghị design 1959, rằng tất cả chỉ dùng chữ design không dịch qua bất cứ thứ tiếng nào. Nhưng ở nước ta, hiện rất nhiều trường có môn design, nhưng không tài nào được chấp nhận nếu không chuyển ngữ đó sang chữ thiết kế.



    Điêu khắc sắp đặt “Mùa sinh sản”, năm 2014 của Thái Nhật Minh tại Manzi Art Space, 14 Phan Huy Ích, Hà Nội


    Giới mỹ thuật Việt Nam cũng đang chìm đắm trong sự cổ lỗ như vậy, mà đó chỉ là những khái niệm chứ chưa nói lên điều gì về bản chất xã hội của nghệ thuật. Chúng ta đứng ngoài nghệ thuật thế giới một cách sâu sắc, mặc dù bất cứ ai có tiền đều có thể tham gia vào các hoạt động nghệ thuật ngoài Việt Nam - workshop, hội chợ triển lãm nghệ thuật, gallery... Các nghệ sỹ trẻ hay đi đây đi đó cũng hoàn toàn là theo chương trình mời từ bên ngoài, người ta chọn ai thì người ấy đi, còn lại là thụ động, ngồi nghĩ là mình oách lắm, chả qua chúng chưa biết đến thôi. Hiện chính xác là giao lưu nghệ thuật quốc tế là hoàn toàn tự túc, hình thức phổ biến là chủ nhà nuôi ăn ở, cho chỗ sáng tác, đi lại nghệ sỹ tự lo, và quá trình hoạt động quốc tế này, sẽ phân cấp, đánh giá, đưa dần dần nghệ sỹ vào phông cảnh chung, trong đó mỗi người tự giữ bản sắc dân tộc riêng, phản ánh đời sống dân tộc của mình cho thế giới biết.

    Điều khó nhất đối với nghệ sỹ toàn cầu vẫn là thị trường nghệ thuật. Làm sao có tiền để hành nghề và sống bằng bán tác phẩm. Ở phương Tây, cái này dường như theo quy luật : một kẻ ăn hết, tất cả nhịn. Đại khái một Picasso bán tranh vài chục triệu đô, nhiều nghệ sỹ còn lại không bán được gì. Hầu hết các nghệ sỹ đều làm đủ mọi nghề khác kiếm sống, nghệ thuật là tình yêu của họ, không ai giúp cũng vẫn làm, vì chả ai có thế giúp cho anh yêu được. Chừng nào mà nghệ sỹ còn kêu tôi không có tiền, không có thời gian để vẽ, tức là anh chưa yêu. Vậy thì nghệ thuật loại anh ra, bất kể anh là giáo sư, tiến sỹ, hay đang giữ chức vụ gì đi nữa. Chúng ta cũng đang có một loạt nhân vật như vậy, họ rất nhiều bằng cấp, chức sắc, nhưng không có gì với nghệ thuật. Nghệ thuật cũng như tự nhiên, rất độc ác. Tự nhiên không chiếu cố con nào yếu hèn, nghệ thuật cũng không chiếu cố người bất tài, tham lam. Nó giả vở lừa phỉnh anh, sai người đến mua tranh của anh tới tấp, sau đó bảo rằng anh đứng ngoài cuộc vì vụ lợi.

    Sau khi thực dân rút khỏi hay thất bại với thuộc địa của mình, thì họ còn để lại cái quan niệm châu Âu - phương Tây là trung tâm. Cho đến nay thì nghệ thuật thế giới vẫn quay quanh cái trung tâm ấy, rất khó thoát ra. Nghệ thuật Việt Nam thì ảnh hưởng nghệ thuật Pháp, nghệ thuật Thái Lan thì ảnh hưởng nghệ thuật Ý, nghệ thuật Indonesia thì ảnh hưởng nghệ thuật Hà Lan, và rồi ảnh hưởng Trung Hoa theo chân các Hoa kiều di tản cũng rộng hết Đông Nam Á, theo các nhóm người hoặc có tính vùng miền sau Pop Art Trung Quốc (Mao Pop). Mặc dầu người Việt có những vấn đề bất đồng với người Trung Quốc, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc là không nhỏ, riêng trong lĩnh vực mỹ thuật nhiều họa sỹ thích thú lối Mao Pop, do sự trùng hợp tự nhiên nào đó, hoặc do bắt chước một cách vô tình, hoặc do tình cảnh và thiết chế xã hội tương đối giống nhau mà ra, và ngay cả cách thức làm nổi đình đám của các nghệ sỹ trẻ cũng giống nhau. Các nghệ sỹ Đương đại cứ hồn nhiên đi vào các khuôn mẫu phương Tây hay Trung Quốc theo cách này hay cách khác mà không bao giờ nghe xem người ta nói gì về mình. Báo chí tiếng Anh từng đưa ra khái niệm Nghệ thuật Đại sứ quán - Embassy Art, hay nghệ thuật phương Tây ngoại vi để chỉ những gì mà các nghệ sỹ trong nước đang làm. Có lẽ đó là một lời khen, hay cách nhìn nghi ngờ trong khi mặt khác thì họ cũng khuyến khích theo góc độ nghệ thuật và vấn đề chính trị xã hội. Dù sao cũng hơn là những người chỉ cốt vẽ cho đẹp mà đứng ngoài các sự kiện xã hội và không có tính cập nhật nào.


    Triển lãm “Những lũy thừa không số” của Trần Trọng Vũ tại Heritage Space, 28 Trần Bình, Mỹ Đình, Hà Nội vào tháng 10/2014


    Kết quả là sự phân hóa không tuyên bố trong hoạt động mỹ thuật Việt Nam. Phía hội Mỹ thuật, và các cơ quan Văn hóa Nghệ thuật biết ít về các hoạt động và nghệ sỹ Đương đại, ngược lại các nghệ sỹ Đương đại thờ ơ với các triển lãm mỹ thuật toàn quốc và khu vực, thậm chí coi đó là hoạt động phong trào và dân gian. Vai trò của hội đoàn nghệ thuật không còn lớn như thời Bao cấp, nhưng hầu hết các hội viên vẫn đòi hỏi sự bao cấp tinh thần và vật chất như trước, cũng như đánh giá ban lãnh đạo hội đoàn theo cái nhìn này.

    Một khu vực văn hóa lai và các nghệ sỹ toàn cầu đang hình thành trên với những đặc điểm riêng của thế giới phẳng và quá trình toàn cầu hóa. Nghĩa là có những nghệ sỹ cảm thấy mình không nhất thiết thuộc về dân tộc nào, nền văn hóa nào, mà nói tiếng Anh, tiêu đô la, ăn mặc ứng xử như một công dân thế giới, du hành hết workshop này đến workshop khác (nghệ sỹ cư trú) và tất nhiên nghệ thuật của họ cũng vậy, và tùy từng mức độ họ thành công đến đâu trong vai trò công dân thế giới của mình. Một số khác không cố gắng được như vậy thì rơi vào nhóm văn hóa lai, tức là họ lai cả về văn hóa và ngôn ngữ mang đặc điểm của những nền văn hóa xuất thân và lưu trú, nhưng gốc thì mất, mà cái mới thì chỉ đạt tương đối như người ngoại quốc, thậm chí họ sinh ra ra ở nước ngoài. Đây là hiện tượng có thật và người ta không xác định được điều này là hay hay dở, nhất là với khu vực văn hóa lai, trong quá trình toàn cầu hóa đã cắt ngang các thế hệ, tách các thế hệ ra khỏi nhau bởi những mô hình văn hóa khác nhau.

    Tình cảnh văn hóa Việt Nam cho thấy một sự pha trộn toàn diện giữa các mô hình và ý tưởng về văn hóa khác nhau. Chiến tranh đã đi qua rất lâu, gần 40 năm qua, nhưng xem ra đề tài chiến tranh và Cách mạng vẫn còn được nhiều người ưa chuộng, và càng cố gắng sáng tác về đề tài ấy, dường như người ta càng khó tìm lại được kỷ niệm xưa, bởi ngay trong cuộc chiến, sau cuộc chiến các họa sỹ đã không có các sáng tác tầm cỡ. Những thế hệ trẻ mới lên, không biết gì về sự đói nghèo thời bao cấp và lửa đạn chiến tranh, cảm thấy có những nhu cầu mới về cá nhân, tình yêu tự do, tình dục và dân chủ nhiều hơn nữa. Nhưng họ cũng không dễ dàng hơn những thế hệ cha anh. Hiện nay, tình trạng tham nhũng, đút lót, thực phẩm không an toàn, giao thông lộn xộn, môi trường ô nhiễm, đạo đức xã hội xuống cấp, đặt họ vào những bất an mà những người đi trước không có. Mỹ cảm của trường Mỹ thuật Đông Dương đã nhạt nhòa với họ và mỹ cảm của nghệ thuật Hiện đại (Modern Art) không còn hấp dẫn nữa, hội họa giá vẽ, điêu khắc trong phòng không đủ để nói lên khát vọng mới và vì thế những hình thức mới gây hấn hơn, mạnh mẽ hơn lôi cuốn họ. Cách thức hoạt động cũ không dung nạp và giúp đỡ được họ thì họ nhanh chóng tìm đến những giải pháp khác, lâu năm thì các hố cách biệt rộng ra đến mức không thể qua lại nhau. Tôi không hiểu sao những thế hệ lớn tuổi không nhận ra điều này và tìm cách nối liền các khoảng cách.

    Sự rạn nứt văn hóa, sự xẻ ngang các thế hệ đang diễn ra ở nước ta và giới mỹ thuật cũng không ngoại lệ. Đứng về mặt nghệ thuật thì thế nào cũng tốt, vì nghệ thuật không cần lựa chọn hoàn cảnh, mọi “hay dở” đều có thể vật chất hóa nó vào tác phẩm miễn là có tài năng. Nhưng cái nền mỹ thuật thì lại có thể hoàn toàn không xác lập được nếu có sự đổ vỡ của cơ cấu văn hóa, mà hình ảnh văn hóa mỹ thuật xuất hiện như những hiện tượng rồi biến mất không nhìn nhận lại được. Đó là thực trạng hôm nay, chúng ta không ít tài năng, nhưng hiện thì khó thấy một công trình kiến trúc nào ra hồn, một nghệ sỹ nào thành danh trong một thời kỳ nhạt nhòa của cá tính.

    Phan Cẩm Thượng

Share:         LinkHay.com