E-mail        Print        Font-size  
  • Tết Mậu Thân 1968: Hoạ sĩ xuống đường


     

    Cứ mỗi lần nhắc đến hai tiếng Mậu Thân, trong lòng tôi cứ như sống lại bao ký ức bi hùng của trận chiến ấy. Tôi nhớ mãi một buổi chiều tiến vào Sài Gòn, hành quân qua cánh đồng Tân Bửu, ánh mặt trời đã khuyết dưới hàng dừa nước, ráng vàng bao phủ bầu trời, đoàn quân giải phóng rầm rập tiến vào Sài Gòn. Trên gốc bờ các má đứng chờ với đôi mắt già nua mỏi mòn. Má hỏi: con có biết thằng A, thằng B... con của má có về không? Bộ đội thì trùng trùng làm sao tôi biết được. Tôi chợt nghĩ ở cánh quân nào đó chắc má tôi cũng đang đứng ngóng chờ tôi, tôi lùi bước chờ Hoàng Anh và kéo tay anh nói ý nghĩ của mình. Anh Hoàng Anh nói: 20 năm rồi tao chưa gặp má tao, ngày tập kết ra Bắc tao cũng chưa kịp gặp má, nhất định vào Sài Gòn tiếp quản trường Mỹ thuật mày phải giúp tao trực ở đó để tao chạy gặp má tao, nhà tao ở xóm Gà Ngã năm Bình Hòa cách trường Mỹ thuật không xa. Đêm đó vào ấp chiến lược Tân Bửu, sáng ra tàu Mỹ tập kích, chúng tôi chạy xuống con rạch dừa nước. Trận đầu tiên anh bị quả đạn M79 trực thăng bắn xuống nước dội lên trúng miệng anh, đứt lưỡi, bể quay hàm dưới, vết thương quá nặng, tôi mang anh đi và động viên anh cố gắng, giặc bớt phản kích sẽ đưa anh về tuyến sau điều trị, kỳ này giải phóng Sài Gòn anh sẽ được gặp má... Nào ngờ đến 3 giờ chiều thì anh vĩnh viễn ra đi, đôi mắt anh vẫn mở như trông chờ gặp má mà anh không còn cơ hội, tôi vuốt mắt anh và lấy chiếc võng dù của tôi phủ lên người anh. Đêm đó, chúng tôi vào Sài Gòn, trong 23 ngày đêm chiến đấu trên đường phố Sài Gòn, tôi cứ ám ảnh bóng hình của má đứng chờ con trên bờ ruộng Tân Bửu. Có chiến sỹ hi sinh tôi lại nghĩ: phải chăng con của má đã nằm xuống trên đường phố Sài Gòn mà các má vẫn còn đứng chờ trên bờ ruộng… cứ mỗi lần gợi nhớ tôi không kìm được nước mắt, mặc dù đã hơn 50 năm qua…

    Trận càn Junction city với 45 nghìn quân Mỹ, hàng trăm máy bay, hàng ngàn xe cơ giới vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam – Tây Ninh (R).

    Phòng Hội họa Giải phóng cũng nằm trong địa bàn tấn công của Mỹ. Các họa sĩ phòng hội họa đã bắn rơi một trực thăng và phối hợp với đại đội 7, tiểu đoàn 2 trung đoàn 1 hạ 7 xe tăng địch ngay căn cứ của phòng. Sau trận càn, căn cứ Phòng Hội họa Giải phóng trở thành bình địa, phải di dời và xây dựng căn cứ mới. Ngày 19/5/1967, mừng sinh nhật Bác Hồ cũng là ngày Phòng Hội họa Giải phóng nhận năm họa sĩ từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam gồm: Lê Hoàng Anh, Nguyễn Quang Bửu, Trương Ngọc Lâm, Thái Đắc Phong và Nguyễn Văn Trừ.

    Sau đó, Thái Đắc Phong về miền Tây Nam Bộ, Nguyễn Văn Trừ về phân khu 2. Còn lại ba anh em được phân công về mũi Sài Gòn. Lúc này, Trang Phượng được bố trí ra miền Bắc học tập chuẩn bị cán bộ cho hậu chiến.

    Tôi lên Phnôm Pênh chờ làm hộ chiếu để đi máy bay ra Hà Nội, đột nhiên có lệnh từ Trung ương Cục gọi Trang Phượng về gấp không ra Hà Nội nữa. Sáng sớm xe cơ quan đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đưa tôi về biên giới, về cơ quan mới biết có lệnh bổ sung tôi vào mặt trận Sài Gòn.



    Họa sĩ Trang Phượng lúc còn ở chiến khu.



    Tối đó, tôi lĩnh họa phẩm đầy đủ và lên đường vào sáng hôm sau. Đến Bố Bà Tây, tôi gặp họa sĩ Lê Hoàng Anh và cánh văn nghệ sĩ gồm nhà văn Lê Văn Thảo, Nguyễn Quang Sáng, nhà thơ Viễn Phương, chúng tôi được nhập vào tiểu đoàn võ trang công tác thành của khu Sài Gòn - Gia Định do anh Năm Bang làm tiểu đoàn trưởng, anh Tám Lâm làm tiểu đội phó. Chúng tôi được ăn cái Tết Quang Trung với không khí háo hức, nhộn nhịp, như một chiến thắng đang chờ đợi gần kề và cũng vô cùng khốc liệt. Tiếng xe Honda chạy ầm ầm vang lên với tiếng súng nổ của đội biệt động Sài Gòn vừa chạy xe vừa bắn, các bài tập võ thuật, ì xèo, từng đội ngồi nghiêm chỉnh học tập 10 điều lệnh quân giải phóng, một bầu không khí rộn rã trong một khu rừng biên giới.

    Được phổ biến tình hình nhiệm vụ sắp tới, chúng tôi cũng nhận thức đầy đủ nhiệm vụ nặng nề khi vào giải phóng Sài Gòn và cũng lường trước được cuộc chiến ác liệt sắp tới, có thể phải hy sinh tính mạng của mình…

    Được lệnh hành quân, chúng tôi chỉ cuốn võng, còn tấm tăng che mưa và mọi thứ không quan trọng bỏ lại hết. Trên đường hành quân tình cờ tôi gặp họa sĩ Tam Bạch (Tây Ninh), tôi mở bòng lấy hộp màu Ony Gaouche của Pháp tặng anh. Anh do dự nắm tay tôi nói: hộp màu là vật quý nhất của họa sĩ sao bạn tặng tôi. Tôi nói anh cầm lấy mà dùng, e rằng tôi không có cơ hội để dùng nó. Hơn 20 năm sau ngày giải phóng có dịp lên Tây Ninh, tôi đến thăm anh, anh chạy vô buồng cầm lấy hộp màu còn nguyên vẹn đem ra nói: Tôi tưởng bạn đã... tôi để làm kỷ niệm, nay bạn còn sống thôi lấy ra xài.

    Dọc theo biên giới Bố Bà Tây xuống Ba Thu, các trạm quân y dã chiến tiền phương đóng dọc theo biên giới. Tối đó, chúng tôi lội dọc theo kinh Ba Ren xuống kinh Bo Bo. Chúng tôi lội bì bõm hướng về vầng sáng, đó là Sài Gòn, trên bầu trời pháo sáng vằng vặc, chiếc VO10 quần đảo, thỉnh thoảng có ánh chớp lóe lên và kèm theo tiếng nổ, lúc xa, lúc gần ngay cả trong đoàn quân, có thương binh, tử sĩ đội thu dung băng bó rồi khiêng về tuyến sau.

    Trên bờ kênh Bo Bo, tôi nói với anh Hoàng Anh: Bửu, Lâm hy sinh trên đoạn đường này mà trời tối quá làm sao tìm được mộ, rồi cứ phải tiếp tục hành quân.

    Một buổi chiều đến Tân Trúc, nhân dân kết xuồng lại cho bộ đội qua Tân Bửu, tôi và Hoàng Anh nán lại vẽ cảnh bộ đội qua sông đến tối không còn vẽ được nữa, chúng tôi mới tiếp tục qua sông (sau này tôi xây dựng lại bức tranh vùng ven tổng tấn công bằng sơn dầu 400x160cm). Bên bờ sông Tân Bửu, các má trải đệm bầy bánh kẹo, thuốc lá cho bộ đội, anh Hoàng Anh thấy ngại lủi đi, các má kêu: Ê thằng nhỏ, nhận quà đi con (anh hơi nhỏ con). Chúng tôi nhận quà rồi bì bõm lội qua cánh đồng Rạch Rít - Bà Tà dưới làn pháo của địch, 3 giờ khuya thì đến ấp chiến lược Tân Nhựt, hai anh em ăn chung một vắt cơm, vắt cơm còn lại để sáng ăn, rồi trải tấm nylon choàng xuống đất hai đứa nằm ngủ, vừa hừng sáng tàu Mỹ tập kích vào chúng tôi, nhà dân ở cập mé sông. Tổ điện đài cơ yếu hy sinh hết vì nhà không có cửa hậu, chúng tôi chui vào cửa sau xuống con rạch dừa nước um tùm tiến ra cánh đồng, lúc này trên đầu trực thăng bắn xối xả, dưới sông 12ly7 của tàu bắn lên, đạn đum đum nổ như pháo, anh Lê Hoàng Anh chạy trước, tôi chạy sau, thấy tình hình nguy kịch, tôi trụ lại lấy tay moi công sự, rễ dừa nước bện kín, tôi vừa lấy chân đạp vừa móc tay, đầu móng tay gãy hết mãi mấy năm sau mới trở lại bình thường.

    Đến 10 giờ thì chung quanh tôi không còn dừa nước nữa, thay vào đó là bùn đất, gốc dừa nước trộn lẫn với thi thể tử sĩ, trực thăng đảo ra ngoài, tôi lội ra lôi tử sĩ vào bờ và kéo thương binh vào công sự của tôi. Tôi bò về phía trước thấy một người nằm trên góc bờ mà quần áo bùn đất lẫn máu bê bết, tôi tưởng đã chết, thấy tôi anh ngẩng đầu dậy, tôi hỏi: Phải anh Hoàng Anh không ? Anh gật đầu. Anh bị thương quá nặng, đứt lưỡi, vỡ quai hàm, miệng mở rộng không cầm máu được. Tôi bảo anh ôm cổ tôi cõng đi, đi được hai bước thì té nhàu, anh khoác tay bảo tôi để anh lại, tôi để anh nằm xuống thì máu trào ra, tôi nằm xuống song song với anh và chóng tay cho anh gối đầu, kẹp khẩu K54 dưới đùi và xác định sẽ hy sinh cùng anh. Vì tình thế lúc này khá nguy cấp, dưới sông thì tàu, trên trời thì trực thăng, đạn đum đum nổ trên đầu liên hồi, dừa nước không còn, cỏ cây cũng mất hết không còn chỗ trú ẩn, nên tôi quyết định nằm chịu trận với anh. Chợt có anh S… chạy đến tôi mừng quá reo lên: Anh S… anh Hoàng Anh bị thương rồi, phụ giúp tôi đưa anh Hoàng Anh đi, anh vừa chạy vừa nói: "Tao biết rồi..." Tôi tức giận: “Tao biết rồi sao bỏ đồng đội…” Tôi chĩa khẩu K54 vào lưng anh, một loạt đạn từ tàu giặc bắn lên rào rào… giật mình tôi hạ súng xuống và cảm thấy ân hận… Suýt nữa tôi lại bắn chết đồng đội của mình. (Sau này anh gặp lại tôi thường nhắc: chút xíu nữa mày bắn chết tao… lúc đó tao sợ quá…) (khi tôi làm Phó Ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy, mỗi lần gặp anh nói: Đảng không ra lệnh được tao đâu, nhưng em nói thì anh nghe, vì em dũng cảm, dám hy sinh mạng sống của mình để cứu mạng đồng đội).


    Tác phẩm "Nữ pháo binh Long An" của họa sĩ Trang Phượng.

    Một lúc sau có ba người phụ nữ chạy đến, chị Mười Hương, cán bộ báo chí nội thành, cô Thanh và cô Thủy. Tôi nhờ các chị phụ giúp tôi khiêng anh Hoàng Anh đi, gặp chiếc xuồng chở đăng của dân bỏ lại, chúng tôi trải đăng ra để anh Hoàng Anh xuống, lấy cái bồng của tôi gối đầu cho anh. Tôi mang anh vào dạ bọng rồi moi công sự cạnh bên nằm đó. Lê Văn Thảo nghe tiếng tôi gọi: "Trang Phượng ơi! Anh em mình chết như củi bên này nè lên đây lấy súng mà chiến đấu". Tôi bảo anh Hoàng Anh bị thương rồi tôi phải ở lại đây với ảnh. Như vậy giặc đã ở tứ bề… dưới sông, trên đồng và trên trời đều có giặc… Không còn đường rút, chúng tôi quyết trụ lại với anh Hoàng Anh. Chúng tôi chịu đựng đến 3 giờ chiều, tôi thấy anh Hoàng Anh lồm cồm bò dậy, tôi lại đỡ anh nằm xuống và động viên anh: Anh cố gắng chịu đựng tối chúng tôi đưa anh về tuyến sau điều trị, anh cử động chúng tôi đau lòng lắm. 5 phút sau chị Mười Hương gọi tôi: "Trang Phượng ơi! Sao thấy hai chân anh Hoàng Anh xanh quá…" Tôi mò lại thì anh đã tắt thở. Tôi để anh nằm ngay ngắn, vuốt mắt anh và mở bồng ra lấy chiếc võng dù của tôi phủ lên người anh. Tôi lấy hộp sơn dầu của anh bỏ vào bồng tôi vì anh không có điều kiện dùng nó. Tối đến du kích gọi chúng tôi lên đường tiến vào Sài Gòn. Tôi bảo tôi còn một tử sĩ, anh em bảo: Để địa phương lo, nhiệm vụ các anh còn nặng nề lắm, phải lên đường ngay thôi. Tôi vội viết tên anh “họa sĩ Lê Hoàng Anh, đơn vị Phòng Hội họa Giải phóng, Ban Tuyên huấn R”, dỡ chiếc võng ra nhìn mặt anh lần chót, rồi đặt mảnh giấy trên ngực anh…

    Du kích đưa chúng tôi đến cầu Bình Điền, chúng tôi băng đồng vào Phú Định, lúc này ta làm chủ tình hình ở Phú Định vì giặc chưa phản ứng kịp. Trời tối chúng tôi vội ra sông, tắm giặt quần áo bùn sình, sau đó mới nhà dân tắm lại, sợ sáng ra đồng bào thấy mình bê bết sình lầy họ sợ. Đa số đồng bào bỏ nhà tập trung vô chùa vì sợ giặc ném bom hủy diệt. Nhà cửa không khóa, nhà nào cũng để trên bàn miếng giấy: “Thịt cá trong tủ lạnh, gạo trong khạp, bánh trái đều ăn được, la-ve cứ uống”. Cả ngày chiến đấu nên rất đói mà chúng tôi đem bánh trái cho ăn, các má nói: đồ trong nhà các con cứ ăn, đó là bà con chuẩn bị cho các con đó, Tết mà.

    Thấy đồng bào tự mang bàn ghế trong nhà ra chất đống làm chướng ngại vật, tôi lấy giấy vẽ ra ký họa, chợt thấy một chiếc xe jeep của giặc bị bắn hỏng bỏ lại, tôi lấy dao găm rọc mui xe và lấy hộp sơn dầu của anh Hoàng Anh vẽ tranh: “Sài Gòn nổi dậy” (hiện Bảo tàng Thành phố lưu giữ). Vẽ rồi bảo vệ bức tranh càng khó, vẽ sơn dầu nên nó không khô, tôi đánh liều đem bỏ trong nhà dân và tiếp tục chiến đấu, mấy ngày tiếp theo tôi vẽ thêm hai bức sơn dầu nữa trên bao cát Mỹ, rồi trở lại tìm bức tranh bỏ ở nhà dân, sơn dầu đã khô nhờ tôi vẽ trực tiếp không có sơn lót nên mau khô. Trận chiến ngày càng ác liệt bảo vệ các bức tranh còn khó hơn mạng sống của mình.


    Ký họa của họa sĩ Trang Phượng.

    Hai đêm rồi mà chúng tôi không qua được cầu Bình Tiên do quân Đại Hàn chốt ở đó. Tối đến, chú Trần Bạch Đằng gặp anh em văn nghệ sĩ, chú bảo: tình hình rất khó khăn, giặc đã phản kích các cậu phải rút ra trong đêm nay, ai nấy đều xin ở lại, chú nói luôn Trang Phượng và Lê Văn Thảo quen chiến trường rồi có thể ở lại còn toàn bộ rút ra An Lạc ngay. Thời điểm này mình có thể làm thay công việc của ba họa sĩ đã hy sinh, hoặc là mình cùng hy sinh với họ mà làm sao giữ được những bức tranh đã vẽ ngay ở chiến trường, tôi lấy nylon cuốn kỹ các bức tranh và viết nhiều mẫu giấy ghi địa chỉ hòm thư cơ quan với câu “nếu tôi có hy sinh, xin chuyển tài liệu này về địa chỉ trên”, rồi ép nylon cẩn thận.

    Ngay đêm đó, tôi và Lê Văn Thảo cũng lạc nhau (tôi không còn nhớ tại sao chúng tôi lạc nhau hôm đó. Sau này nghe nói anh bị thương ở Qui Đức). Tôi qua sông Rạch Cát vào vùng Chánh Hưng. Giặc khắp nơi chiến đấu liên tục, đại liên chúng đặt trên sân thượng các ngã tư quét theo trục lộ, chúng tôi chỉ chạy qua các con hẻm, hoặc đục tường nhà phố mà liên lạc với nhau, cứ nghe tiếng súng AK thì mò đến tìm quân ta. Cứ gặp rồi làm quen với các đồng đội chiến sĩ mới, tôi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ nếu như tôi hy sinh thì nhờ các anh chuyển các tranh vẽ về cơ quan. Nhưng rồi qua trận đánh, các anh hy sinh hết, tôi lại lạc vào các nhóm khác, cứ thế… Tôi không nhớ đã gửi bao nhiêu mảnh giấy này cho các anh. Càng vào sâu thành phố, tử sĩ không có chỗ chôn, chúng tôi đành khiêng bỏ vào nhà cháy do tên lửa của giặc bắn xuống. Còn thương binh thì cứ gõ cửa nhà dân gửi, không biết họ là ai nhưng không còn cách nào khác, tất cả thương binh được người Sài Gòn tìm mọi cách đưa vào bệnh viện chữa trị và đưa ra vùng giải phóng an toàn, kể cả có trúng gia đình sĩ quan thì họ vẫn đưa vào bệnh viện quân đội điều trị. Còn anh em khỏe mạnh thì tiếp tục chiến đấu rồi hy sinh, chúng tôi luôn ghi nhớ và biết ơn tấm lòng của người dân thành phố Sài Gòn, họ đã che chở đùm bọc và nuôi dưỡng quân giải phóng. 23 ngày đêm chiến đấu ở Sài Gòn, chúng tôi chiến đấu được 28 trận, không nấu được bữa cơm nào, toàn do đồng bào tiếp tế.

    Tình cờ sau trận đánh, tối hôm đó, tôi lạc qua đơn vị khác gặp ba anh ở Thông tấn xã Giải phóng, mừng quá chúng tôi lại gặp nhau thế này. Anh Sáu Cang, anh Phan Hoài Nam (quê ở Đà Nẵng, học sinh miền Nam tập kết, học ở Liên Xô, về chiến trường miền Nam ở Thông tấn xã Giải phóng. Hy sinh đợt 2 ở mặt trận phía Nam Sài Gòn), anh Mẫn - phóng viên nhiếp ảnh. Các anh nói bây giờ chúng ta có bốn Đảng viên, cử Trang Phượng làm tổ trưởng để quyết định sự sống chết cùng nhau. Anh Hoài Nam ngoài khẩu K54, anh còn mang thêm cây AK. Chúng tôi trụ lại bên cầu chữ Y và gặp quân đội quận 4, tôi liên lạc và xin theo các anh. Được mấy ngày, địch phản kích mạnh chúng tôi rút ra sông cây khô (khu Phú Mỹ Hưng ngày nay).

    Trang Phượng



Share:         LinkHay.com