E-mail        Print        Font-size  
  • Kỷ niệm 100 năm cách mạng tháng Mười Nga (1917 - 2017): Hai dòng chảy mỹ thuật Liên Xô

    “Bảo vệ Sevastopol” của Deineka, sơn dầu, 200x400cm, 1942, Bảo tàng Nga, Saint Petersburg. Họa sĩ đã kể rằng: “Tôi vẽ bức tranh này bằng tất cả tâm hồn mình với sự lo lắng. Tôi yêu Sevastopol. Trước chiến tranh tôi hay tới đó để bơi lội, lướt sóng và câu cá”.




    Nhắc đến nghệ thuật Liên Xô chúng ta thường nghĩ ngay đến Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (Социалистический реализм), một phong cách nghệ thuật chủ đạo của khối xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20, trong đó có Việt Nam.

    Thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nhắc tới vào ngày 23/05/1932 bởi Ivan Gronsky trên báo Văn học, sau đó được chính quyền Xô viết sử dụng thành một chủ trương chính thống trong sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật, ở mọi lĩnh vực từ văn học, kiến trúc, hội họa, đến âm nhạc, điện ảnh… Kể từ đây, các trào lưu tư tưởng nghệ thuật tiên phong của các nghệ sĩ Nga đầu thế kỷ như Tối thượng, Trừu tượng, Biểu hiện… chính thức bị đẩy ra ngoài rìa, mặc dù từ ngay từ năm 1918 chúng đã bị chính quyền mới nghi hoặc. Dưới áp lực chính trị đè nặng lên nghệ thuật, không ít các nghệ sĩ đã chọn con đường di cư sang các nước phương Tây. Những người ở lại vẫn âm thầm duy trì một dòng chảy nghệ thuật được khơi nguồn từ trước khi cách mạng nổ ra; có lúc đối lập, có lúc dung hòa với dòng chính thống.

    Dòng chảy chính thống

    Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là lựa chọn tất yếu, phù hợp với quan điểm triết học, chính trị, xã hội của chủ nghĩa cộng sản, như Maksim Gorky nói: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa khẳng định tồn tại như là hành động, như là sự sáng tạo, với mục tiêu khơi dậy và phát triển liên tục những khả năng cốt lõi của con người vì sự chiến thắng sức mạnh tự nhiên, vì bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ, vì hạnh phúc lớn lao trên khắp trái đất, mà mỗi con người là một thành phần trong sự thống nhất của đại gia đình nhân loại”.

    Các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là:

    - Thứ nhất, các tác phẩm nghệ thuật phải phù hợp với thẩm mỹ số đông của quần chúng nhân dân, sử dụng các chất liệu dân gian và phổ biến. Một ví dụ nổi bật cho nguyên lý này là năm 1932 khi kiến trúc sư nổi tiếng đương thời của Pháp là Le Corbusier trình bày đồ án Cung Xô viết ở Moscow với phong cách hiện đại, Stalin có vẻ gật gù nhưng trả lời rằng: “Tôi không phải là một kiến trúc sư, tôi không biết nhiều về kiến trúc, nhưng tôi biết chắc rằng người dân Liên Xô không đánh giá cao nó”. Và quan điểm của Stalin không phải là không có lý khi ta nhìn lại kiến trúc, đô thị và hội họa hiện đại khắp các nước tư bản phương Tây là “na ná” nhau, rất khó phân biệt tính dân tộc, còn nghệ thuật của Liên Xô, nhất là giai đoạn Stalin cầm quyền, lại có đặc trưng riêng khó nhầm lẫn.


    “Đức mẹ Petrograd” (còn có tên khác là “Petrograd năm 1918”) của Petrov-Vodkin, sơn dầu, 73x92cm, 1920, Bảo tàng nghệ thuật Tretyakov, Moskva. Nghệ thuật của Petrov-Vodkin đặc sắc ở chỗ khi ông đưa không gian cổ điển vào những hình thể và nhân vật hiện tại một cách mơ màng khéo léo, ví dụ ở đây cô công nhân bế con gợi lên một bức tranh thánh Chính Thống giáo, còn không gian phía sau tuy sử dụng màu đối chọi hiện đại nhưng lại gợi lên một quang cảnh thời Phục Hưng ở Châu Âu.


    - Thứ hai, nghệ thuật phải cho thấy cuộc sống thanh bình của người dân, để họ chiến đấu vì một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn cho tất cả mọi người. Những đề tài mỹ thuật của Liên Xô thường là cuộc sống thực của nhân dân, là chiến đấu và xây dựng tổ quốc. Đặc biệt tranh cổ động là thể loại được đẩy lên trình độ cao, một đặc sản chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, chúng ta có thể cho rằng nguyên lý thứ hai này cứng nhắc và phiến diện, nó không cho phép nghệ sĩ khai thác hết những mặt trái của xã hội hay góc khuất của tâm hồn, tuy nhiên ta cũng phải công nhận rằng nó cũng có ưu điểm khi yêu cầu nghệ thuật phải mang tính nhân văn, khơi gợi những điều tốt đẹp cho con người và xã hội. Nếu chúng ta so sánh các tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa với rất nhiều các tác phẩm “đương đại” trên khắp thế giới kiểu như ngâm phooc-môn thai nhi hay bãi phân thì ngay lập tức ta có thể phỉ nhổ ngay lập tức bọn đương đại vô đạo kia.


    “Chân dung nhạc sĩ Kara Karaev” của Salakhov, sơn dầu, 1960, 121x203cm, Bảo tàng nghệ thuật Tretyakov, Moskva.

    - Thứ ba, nghệ thuật phải thể hiện được quá trình phát triển một cách biện chứng duy vật, mọi chi tiết trong tác phẩm đều có thể lý giải được. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong cách xây dựng hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết và điện ảnh, hoặc cách bố cục rất chặt chẽ trong kiến trúc và hội họa. Đặc biệt, đối với lĩnh vực phê bình nghệ thuật, cho tới ngày hôm nay, nguyên lý thứ ba này vẫn còn nguyên tính thời sự.

    Theo dòng lịch sử ra đời, phát triển và suy tàn của Liên Xô, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng có những thời kỳ đặc trưng riêng, cụ thể:

    - Giai đoạn 1917 – 1930: phong cách hiện thực được tiếp nối từ truyền thống từ các bậc thầy cổ điển trước cách mạng như Repin, Surikov, Kramskoy… và bổ sung thêm các thành quả của các nhà Tiên phong. Tâm trạng của nhân vật tác phẩm thường phảng phất suy tư, ngỡ ngàng trước sự biến động của xã hội. Những hội nhóm mỹ thuật mới được hình thành và đưa ra các tuyên ngôn nghệ thuật của mình, về cơ bản có xu hướng hiện thực lãng mạn. Những họa sĩ nổi bật của thời kỳ này có thể kể đến Petrov-Vodkin, Grekov, Deineka…



    “Phức cảm” của Malevich, sơn dầu, 1928-1932, 79x99cm, Bảo tàng Nga, Saint Petersburg. Malevich không hiểu do miễn cưỡng hay tự thân đã kết hợp nghệ thuật tối giản với hiện thực. Phong cách này, giờ đây các nhà phê bình gọi là Hậu- tối thượng.

    - Giai đoạn 1930 – 1945: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được thừa nhận là chính thống, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt trong những năm tháng chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Những quan điểm vị lai, lãng mạn bị cảnh cáo và chấn chỉnh, mà mở màn là nghi án về cái chết của Mayakovsky (1930) bị mật vụ thủ tiêu bởi ông kiên quyết giữ quan điểm tự do trong nghệ thuật. Trong những năm tháng chiến tranh, những bức tranh nghệ thuật hoặc tranh cổ động thể hiện sự anh hùng bất khuất của quân dân Liên Xô trước phát xít Đức đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần yêu nước, quyết tử bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các họa sĩ tiêu biểu trong thời kỳ này là Brodsky, Deineka, Yuon, Plastov…

    - Giai đoạn 1945 – 1960: hiện thực xã hội chủ nghĩa đạt tới đỉnh cao về vị thế chính trị, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, tuy nhiên không có nhiều sáng tạo về bút pháp. Những bức tranh về đề tài lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng với kích thước lớn là điểm nổi bật của thời kỳ này. Các họa sĩ tiêu biểu gồm Ioganson, Melikhov, Plastov…

    - Giai đoạn 1960 – 1990: từ thời Khruschev trở đi, chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật cũng được thả lỏng hơn với nhiều xu hướng khác nhau, ví dụ như xu hướng “Khắc nghiệt” tìm lại các giá trị trước thời Stalin, xu hướng kết hợp hiện thực với chủ nghĩa ấn tượng hoặc chủ nghĩa biểu hiện của các nghệ sĩ trẻ và các nghệ sĩ ở các nước cộng hòa xa trung tâm. Những tên tuổi nổi bật có thể kể đến Kamensky, Polkov, Salakhov…

    Sau khoảng 70 năm đội vòng nguyệt quế, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình khi Liên Xô sụp đổ. Kể từ đây, nó trở thành dòng chảy ngầm trong không gian hậu Xô viết, còn dòng chảy chính thống của nghệ thuật đương đại, trớ trêu thay, lại được thay thế bởi dòng chảy ngầm thời Liên Xô.


    “Bố cục” của Mikhnov-Boitenko, sơn dầu trên giấy, 1958-1962, 42x60cm, sưu tập tư nhân

    Dòng chảy ngầm

    Sau khi cách mạng tháng Mười thành công, một số nghệ sĩ tiên phong trước cách mạng đã thấy không thể dung hợp được với định hướng nghệ thuật mới nên đành phải di cư sang Tây Âu và Hoa Kỳ như Kandinsky (1920), Lissitzky (1921), Chagall (1922), Rosenbaum (1926)… để rồi sau đó họ có những đóng góp quan trọng đối với nghệ thuật hiện đại, đương đại phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung. Nhưng cũng có những người quyết định ở lại như Malevich, Bulgakov, Pasternak… và họ lúc thì âm thầm sáng tác, lúc thì mạnh mẽ đứng lên bảo vệ quan điểm nghệ thuật của mình, một quan điểm thiên về duy tâm và siêu hình, trái ngược với hiện thực xã hội chủ nghĩa.

    Thời gian đầu sau khi cách mạng nổ ra, Malevich, ông tổ của nghệ thuật Tối giản và Tối thượng, vẫn được tương đối tự do tiếp tục quan điểm nghệ thuật của mình. Nhưng từ sau khi Stalin lên nắm quyền, tức những năm cuối đời của họa sĩ, ông buộc phải (hoặc tự mình) thay đổi phong cách để phù hợp với hoàn cảnh chính trị xã hội, bởi Stalin rất ghét tranh trừu tượng. Những bức tranh thời kì này của họa sĩ dù không thể bỏ qua những mảng màu hình học quen thuộc nhưng phải “chua” thêm hình thể người vào nữa để vẫn thấy chút gì đó “hiện thực”. Thú vị ở chỗ, chính sự thay đổi phong cách mang tính khiên cưỡng này lại cho ra đời một xu hướng mới mà các nhà phê bình hiện nay gọi là Hậu- tối thượng.

    Đôi khi, các văn nghệ sĩ ở dòng chảy ngầm đứng lên bảo vệ quan điểm nghệ thuật của mình rất quyết liệt, dù cho rất nhiều trong số họ bị bắt đi cải tạo khổ sai. Điển hình là trường hợp của nhà văn Bulgakov, tác giả của “Nghệ nhân và Margarita”, một trong những tiếu thuyết xuất sắc nhất thế kỉ 20. Giữa bão tố trong mặt trận tư tưởng, Bulgakov không ngần ngại công bố những tiểu thuyết hay vở kịch đậm chất siêu hình, huyền ảo, Mặc dù các tác phẩm của nhà văn bị cắt xén, đình bản, nhưng thú vị ở chỗ, Stalin rất thích chúng. Chính vì thế khi Bulgakov làm đơn xin di cư sang nước ngoài, đích thân Stalin đã gọi điện cho nhà văn, van nài ông ở lại. Phải chăng, với tư duy của một chính trị gia kiệt xuất, Stalin nhận thấy sự cần thiết của một đối trọng cho dòng chảy chính thống hiện thực xã hội chủ nghĩa đang hừng hực khí thế?

    Dòng chảy ngầm được định hình rõ nét và mạnh dạn đưa ra quan điểm nghệ thuật không chính thống của mình vào khoảng cuối những năm 1950, sau khi Stalin qua đời. Những xu hướng phi chính thống, đối lập với hiện thực xã hội chủ nghĩa được tập hợp lại thành một trào lưu với tên gọi Nghệ thuật không chính thức Liên Xô (Неофициальное искусство CCCP).


    Một tác phẩm nghệ thuật khái niệm của Kobakov

    Ngày 01/12/1962, tại nhà triển lãm Manezh ở Moskva đã diễn ra cuộc triển lãm kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Mỹ thuật Liên Xô mang tên “Thực tiễn mới”. Ở đó có trưng bày các tác phẩm của các họa sĩ Tiên phong với các bức tranh theo chủ nghĩa Tượng trưng, Hình thức và Trừu tượng. Khruschev, theo lời mời, cũng có mặt tại triển lãm. Ông ta đã nổi điên và không ngần ngại “văng tục” ngay tại triển lãm. Vị tổng bí thư đã nhận xét các bức tranh ngay tại triển lãm rằng: “Khuôn mặt quái quỷ gì thế này? Các anh không biết vẽ à? Cháu tôi nó còn vẽ đẹp hơn. Các anh có lương tâm hay không?” Hai tuần sau cuộc gặp, Khruschev phát biểu: “Các họa sĩ đã học tập bằng tiền của nhân dân, ăn bánh mì của nhân dân nên phải làm việc cho nhân dân. Các họa sĩ làm việc cho ai nếu như nhân dân không hiểu họ vẽ cái gì?”

    Không nhụt chí, các nghệ sĩ vẫn tiếp tục con đường của mình. Giờ đây, ngoài tiếp nối truyền thống huy hoàng từ thời trước cách mạng còn có cả sự giao lưu với nghệ thuật đương đại ở Tây Âu và Mỹ. Họ âm thầm tổ chức các cuộc triển lãm trong các căn hộ thay vì ở cung triển lãm hay bảo tàng. Những nhóm phái ở các thành phố lần lượt ra đời như nhóm Phản tương hợp Odessa, nhóm Khái niệm Moscow, nhóm Siberi Undergroud, nhóm Lianozov… Những đại diện tiêu biểu có thể kể đến Mikhnov- Boitenko, Sokolov, Kobakov, Khrusch…

    Sau khi Liên Xô sụp đổ, các tác giả tác phẩm của trào lưu Nghệ thuật không chính thức bắt đầu được vinh danh tại Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, với điểm nhấn là các cuộc triển lãm đình đám tại các bảo tàng danh tiếng nhất ở Moscow và Saint Petersburg. Đặc biệt, ngày 01/12/2012, nhân kỉ niệm 50 năm sự kiện Manezh, nhà nước Nga đã tổ chức triển lãm “Manezh là thế đấy”, tập hợp lại các tác phẩm đã trưng bày ngày 01/12/1962 với lòng tri ân và ngưỡng mộ những nghệ sĩ dũng cảm đã đi theo tiếng gọi từ trái tim mình.
     
    Vũ Hiệp

Share:         LinkHay.com