E-mail        Print        Font-size  
  • Thiên nhiên, cuộc sống, con người trong hội họa Nguyễn Văn Chung

    NGUYỄN VĂN CHUNG - Trong lán dân quân. 1979. Lụa. 58x93cm



    Họa sĩ Nguyễn Văn Chung sinh năm 1934 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam năm 1969 và công tác, giảng dạy tại trường đến năm 1977. 1978 -1998, ông công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, trong đó có nhiều năm giữ cương vị giám đốc bảo tàng.

    Về mặt lịch sử, Nguyễn Văn Chung thuộc thế hệ các họa sĩ xuất thân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cũng là thời kỳ nền nghệ thuật của chúng ta có tên gọi “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, hoặc chính xác hơn, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa “theo kiểu cách riêng của Việt Nam”.


        
    NGUYỄN VĂN CHUNG - O Thu An, thanh niên xung phong Thanh Hóa 1966. Thuốc nước. 27x20cm (trái)

    NGUYỄN VĂN CHUNG- Nữ dân quân đọc báo. 1968. Mực nho. 28x20cm (phải)

    * * *

    Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (réalisme socialiste), trên thực tế, phát xuất từ Liên Xô, và đã tồn tại ở Liên Xô hơn 50 năm (1934-1988), là tổng của các nguyên lý về tư tưởng, mỹ học và tổ chức chi phối toàn bộ đời sống nghệ thuật và văn học xô-viết, và đã có ảnh hưởng rộng khắp các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đương thời. Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tồn tại khoảng trên dưới 25 năm, và về thực chất, nó đã hoàn tất tại kỳ Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1980.


    NGUYỄN VĂN CHUNG -Trăng trên cồn cát. 1976. Lụa. 89x53cm

    Cho dù được đo bằng cấp độ của “văn hóa đại chúng”, nhưng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn có sự tương ứng nào đó với các chuẩn hàn lâm, đề cao tính nghề nghiệp trong nghệ thuật, và đây chính là một trong những nhân tố quan trọng đã tạo nên đặc trưng, hay nói đúng hơn, những ưu tính của các nghệ sĩ thời kỳ này. Ngày ấy, ở nước ta, vẫn còn những họa sĩ bậc thầy đích thực để các họa sĩ trẻ noi theo và giữ được cho mình đức hạnh thẩm mỹ...

    Nếu xem những ký họa của Nguyễn Văn Chung vẽ trong thời kỳ cuối những năm 1960 đầu 1970, chúng ta có thể gặp lại một thị hiếu hội họa đã được định hình từ sự cảm nhận tinh tế trước hiện thực, cùng kỹ năng thể hiện vững vàng, đôi khi tới mực tài hoa. Những cô nông dân, dân quân, thanh niên xung phong, những o du kích, những cảnh làng quê, sinh hoạt, sản xuất, những cụ ông, cụ bà, lão ngư, bà mẹ... hiện lên xác thực, qua những nét bút, mảng màu vừa mạnh mẽ vừa rung rinh. Ở đây, năng lực vẽ hình tượng của người họa sĩ thật đáng để trân trọng, và một số ký họa của ông đã trở thành những tác phẩm.

    * * *

    Giống như hầu hết các họa sĩ ở thời kỳ hiện thực khi đó, Nguyễn Văn Chung luôn luôn xây dựng các tác phẩm của mình trên cơ sở những tư liệu ông đã ghi chép được từ thiên nhiên và cuộc sống. Quá trình hình thành các bố cục từ những ký họa, trực họa, hình nghiên cứu- thực ra, là một quá trình khoa học và mang tính trí tuệ. Ngày nay, việc xem nhẹ quá trình này có thể dẫn đến những sai lầm cần được khắc phục (mà có lẽ bởi vậy, “hiện tượng luận về tri giác” đang được giới nghệ thuật đương đại đề cao).

    Nguyễn Văn Chung được biết đến nhiều nhất qua một số tranh lụa như “Đọc tin chiến thắng” (1968), “Trong lán dân quân” (1979), “Khâu nón” (1980), và đặc biệt - “Trăng trên cồn cát” (1976). Với tranh lụa, ông rất am hiểu tầm quan trọng của khuôn khổ và rất giỏi tìm ra những yếu tố tạo hình cũng như nhịp điệu có đủ điều kiện biểu hiện tính thơ, kết hợp lối vẽ công bút với lối vẽ thảo, gây cảm giác thanh mát mà sâu lắng, rất lụa. Tranh lụa của ông thường là những “kakémono” (trục dọc) hoặc “makimono” (trục ngang) đầy chất Á Đông, nhưng xa gần, về căn bản, vẫn là cái xa gần của châu Âu, gần gũi với hiện thực.


    NGUYỄN VĂN CHUNG - Khâu nón. 1980. Lụa. 86x48cm

    * * *

    Từ những năm 1980, Nguyễn Văn Chung chủ yếu vẽ sơn dầu, bằng sự chiêm nghiệm và khoan thai của một con người từng trải đã có tín điều chắc chắn, đủ bản lĩnh, đủ tự chủ để ghi lại cảm xúc của mình theo quan niệm của mình. Quay lại những đề tài vĩnh cửu: chân dung, hoa và tĩnh vật, ông biểu lộ tình yêu cuộc sống một cách tự nhiên và mực thước, bằng bút pháp nhanh, mạnh, trực tiếp và không kém phần biến hóa trước những đối tượng khác nhau; sự đơn giản thường đến một cách khá bất ngờ, không dễ lặp lại, là kết quả của một tấm lòng yêu nghề khắc khoải chưa bao giờ nguội lạnh.

    * * *


    NGUYỄN VĂN CHUNG - Chân dung cháu Hồng Giang. 1986. Sơn dầu. 55x45cm


     


    Họa sĩ Nguyễn Văn Chung đang vẽ chân dung mẫu nữ

    Về sự nghiệp hội họa của Nguyễn Văn Chung, đúng như chính Nguyễn Văn Chung đã từng viết: “... Nghệ thuật không phải là phù phiếm, dông dài mà là những điều tâm đắc được cô đặc, được kết tinh lại và thăng hoa để mọi người đều cảm thấy hương sắc bâng khuâng. Một câu nói tự tâm can, giản dị, chân thật có sức thuyết phục lớn hơn nhiều câu nói bay bổng, mơ hồ, vẩn vơ, vô tích sự. Con người không thể ngụy biện, đưa điều phi lý thành có lý. Nghệ sĩ không thể biểu hiện ra cái trong mình không có một cách bâng quơ mà lại tỏ ra cao siêu, huyền bí... Nghệ sĩ phải là nhân chứng của cuộc đời, nếu không cũng là một đoạn đời hay một mảnh đời nho nhỏ”- và, nghệ thuật, hội họa “không chỉ là hòa sắc hay nhịp điệu thôi, mà là tính chất tràn đầy sự sống”.

    “Nghệ thuật và hiện thực” - là tiêu đề một bài viết của Nguyễn Văn Chung (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật tháng 4 năm 2004), một vấn đề không mới cũng không bao giờ cũ. Và qua thực nghiệm hội họa của ông, mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực quả tình ít nhiều đã được giải quyết theo một cách riêng, để từ đó, thiên nhiên, cuộc sống và con người đã ùa vào hội họa, với nhiều vẻ, nhiều hương sắc trong lành, tươi tắn, một thứ âm nhạc bình dị, thanh tao và êm ái của tâm hồn.

    Q.V

Share:         LinkHay.com