E-mail        Print        Font-size  
  • Tương lai nào cho bảo tàng ?

     Đồ án kiến trúc "Thư viện Hoàng đế" (1785) do Étienne-Louis Boullée thiết kế.



    Trong lịch sử phát triển nghệ thuật, các viện bảo tàng là một tổ chức hình thành từ lâu đời chuyên lưu giữ và trưng bày tác phẩm theo những tiêu chí nhất định – phụ thuộc vào chủ nhân hay cơ quan quản lý của bảo tàng. Ngay từ năm 1909, Theodor Volbehr, trong cuốn “Tương lai của bảo tàng Đức” (The Future of German Museums), đã mô tả chức năng của các bảo tàng như là những “trung tâm giáo dục phổ thông - theo nghĩa rộng nhất”. Để chúng tồn tại, phát triển và vẫn luôn thu hút được sự quan tâm của công chúng trong thời đại toàn cầu hóa, câu hỏi “hình thức trưng bày/hoạt động nào và những thứ nghệ thuật nào nên được sưu tập và trưng bày trong bảo tàng” dường như ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Một khi cả nghệ thuật và công chúng đều đã thay đổi rất nhiều, thì để tồn tại và phát triển, tất yếu các bảo tàng cũng cần có sự thay đổi về nội dung cũng như hình thức/kết cấu trưng bày. Theo dòng lịch sử, các viện bảo tàng đã biến đổi “từ một chiếc container bị mắc kẹt trở thành người bạn đồng hành của công chúng”, phản ánh phương cách hoạt động của bảo tàng ngày càng như những “không gian xã hội và công cộng” - phục vụ nhu cầu học tập và khám phá của công chúng. Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong giai đoạn mở rộng, thích ứng và biến đổi, các bảo tàng đã trở thành những “phòng thí nghiệm của các ý tưởng”, trở thành “một tác phẩm nghệ thuật mang tính tổng thể”, “một ngôi đền của sự thưởng lãm, khoái lạc” hay ngược lại – là “nơi đầu độc”, và thậm chí là một “thánh địa Medina của thế kỷ 21”.

    Vậy, tương lai nào cho các viện bảo tàng? Dưới đây là một số tư liệu quốc tế tổng hợp những ý kiến/quan điểm cá nhân của nhiều nhân vật quan trọng có liên quan trực tiếp và/hoặc gián tiếp tới hoạt động của các bảo tàng, đặc biệt là từ curator, nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhà sưu tập và giám đốc bảo tàng - những người có cơ hội tận mắt chứng kiến và trải nghiệm sự biến đổi không ngừng và vai trò mở rộng của các tổ chức này trên khắp thế giới.


    Tấm bích chương này là một trong sáu tấm poster trong chiến dịch mang tên "V&A: Một tiệm cà phê xịn trong một viện bảo tàng tuyệt đẹp" do Paul Arden và Jeff Stark thiết kế cho công ty quảng cáo Saatchi & Saatchi, London. Đây là một phần trong chiến dịch của bảo tàng V & A nhằm làm cho bảo tàng trở nên hấp dẫn và dễ tiếp cận hơn đối với công chúng vào cuối những năm 1980. Từ khi thành lập bảo tàng vào năm 1852, nguyên tác thành lập của nó là làm cho nghệ thuật và thiết kế có thể tiếp cận được với tất cả mọi người. Ngôn ngữ thẳng tưng trong tờ poster nhằm nhấn mạnh tới đặc điểm dân chủ và dễ dàng tham quan các bộ sưu tập tại bảo tàng V & A. Được miêu tả trong tờ bích chương là tác phẩm điêu khắc Venus và Cupid, bằng ngà voi, của Le Marchand.


    Làm thế nào để Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại trở nên ‘hiện đại’?

    (Trích ý kiến của Sam Thorne - Giám đốc nghệ thuật của bảo tàng Tate St Ives, Anh)

    Kể từ ngày xuất hiện các viện bảo tàng đầu tiên trên thế giới, những ưu tư về tương lai của chúng luôn được các chủ nhân cũng như các nhà chuyên môn và công chúng quan tâm. Một thế kỷ rưỡi trước khi các bộ sưu tập hoàng gia của châu Âu được mở ra cho công chúng chiêm ngưỡng, các triết gia của nhiều trường phái khác nhau cũng từng mơ ước về các công trình kiến trúc có cơ chế hoạt động theo kiểu ‘viện bảo tàng’. Vào đầu thế kỷ 17, những tổ chức ‘trong mơ’ này đã được một số nhà không tưởng đề cập, chẳng hạn như Sir Francis Bacon đã mô tả trong cuốn New Atlantis (1627) rằng “đó là một tòa nhà chứa đựng toàn bộ lịch sử tự nhiên”. Và trong thực tế, như Andrew McClellan trình bày trong cuốn sách nhan đề Bảo tàng Nghệ thuật từ Boullée đến Bilbao (2008), những tư duy kiến trúc táo bạo của kiến trúc sư người Pháp theo chủ nghĩa Tân Cổ điển Étienne-Louis Boullée ngay từ những năm 1780 đã có ảnh hưởng sâu sắc tới đồ án thiết kế của Grand Gallery (Gian Lớn) ở cung điện Louvre.

    Lưu trữ cũng như dự báo xu hướng sưu tầm hiện vật, đó là hai nhiệm vụ mà bảo tàng nào cũng luôn quan tâm. Trong quá trình ‘chăm sóc’ quá khứ và hiện tại, họ cũng đóng góp vào việc tiên đoán những vấn đề nảy sinh trong tương lai của chính mình. Những cú ‘đặt cược’ này thường liên quan đến việc tìm kiếm các mô hình trưng bày mới hoặc tầm nhìn mới. Trong một bài giảng năm 1889 mang tên “Tương lai của Bảo tàng”, một nhà quản lý của bảo tàng Smithsonian ở Washington dự đoán: “Bảo tàng tương lai phải sát cánh với các thư viện và phòng thí nghiệm.” Hơn một thế kỷ sau, ước mơ vẽ lại ranh giới bảo tàng vẫn tiếp tục. Xu hướng này gần đây đặc biệt đã được thể hiện rất rõ trong những dự án thay đổi tạm thời được thử nghiệm với nhiều quy mô khác nhau: Dự án 'MUHKADEMIE', từ tháng 9/2013 đến tháng 1/2014 đã biến toàn bộ không gian Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại Antwerp (Bỉ) thành một trường học nghệ thuật; còn Bảo tàng nghệ thuật Hiện đại và Đương đại Van Abbemuseum ở Eindhoven (Hà Lan) đã dành hai năm, 2013-2014, để triển khai dự án thực hành “nghệ thuật hữu ích”; trong khi đó, đầu năm 2015, biên đạo múa người Pháp Boris Charmatz đã tái tạo bảo tàng Tate Modern thành một dạng “Bảo tàng Vũ kịch”.


    Thư viện Alexandria, xây dựng từ TK 3 T.CN, cũng là một Viện Bảo tàng danh tiếng thời cổ đại Ai Cập. Tranh khắc của O.Von Corven, TK 19.




    Một tác phẩm sắp đặt của nghệ sĩ Yona Friedman được thực hiện trong không gian của Bảo tàng Antwerp trong thời gian diễn ra dự án 'MUHKADEMIE', 2013.

    Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà vóc dáng của bảo tàng, tính biểu tượng và nội dung hoạt động của nó đang được tái cấu trúc nhanh chóng. Đã có sự tham gia đông đảo chưa từng có của nhiều tầng lớp xã hội vào quá trình này, và cũng chưa khi nào tốc độ ra đời của các bảo tàng mới lại ồ ạt như thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, tương lai của các viện bảo tàng vẫn chưa được các chuyên gia quan tâm đúng mức. Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây nhan đề Museums 101 (2015), phạm vi biến động quy mô này đã được tác giả Mark Walhimer gợi ý bằng một danh sách không ngắn lắm: “sự tích hợp, tính toàn cầu hóa, tính truyền thông xã hội, giá trị tài sản thế chấp, nhân lực cộng đồng, tài chính cộng đồng, tính linh động, tính hợp tác, xu hướng thương mại hoá, tính giáo dục trực tuyến và cổ phần hóa”. Hầu hết các cuộc tranh luận hiện nay đều bàn về sự phát triển cân đối và hài hoà. Chẳng hạn, làm sao vẫn tạo ra được những không gian thưởng lãm đương đại thú vị như trước kia? Làm sao các bảo tàng vẫn đạt được mức độ phổ thông trong khi xem xét lại nguyên tắc hoạt động? Các bộ sưu tập công cộng có thể tiếp cận các bộ sưu tập cá nhân như thế nào? Hoặc, đối mặt với sự cắt giảm ngân sách của các quốc gia và chính quyền thành phố, thì mối quan hệ giữa các tổ chức công và lợi ích cá nhân sẽ như thế nào để mang lại ích lợi cho các bảo tàng và công chúng?

    Ngày nay, sự mâu thuẫn giữa nhu cầu xây dựng bảo tàng thành không gian công cộng có trách nhiệm xã hội và nhu cầu thương mại ngày càng bộc lộ rõ hơn. Kể từ đầu những năm 1990, đã có nhiều ý kiến về vấn đề này được nêu ra, đặc biệt liên quan tới các hợp đồng tài trợ sinh lời; các triển lãm và sự kiện kèm theo thương hiệu của các công ty/tập đoàn; việc mở rộng liên doanh với các hãng bán lẻ và nhà hàng ăn uống. Ví dụ, vào cuối những năm 1980, chiến dịch quảng cáo đình đám do Saatchi & Saatchi thực thi tại bảo tàng danh tiếng Victoria & Albert, Anh, với khẩu hiệu “V&A: An ace caff with quite a nice museum attached.” (“V&A: Một tiệm cà phê xịn trong một viện bảo tàng tuyệt đẹp.”) đã bị công chúng phản đối kịch liệt. Đây cũng chưa phải là cuộc tranh luận đầu tiên về mục tiêu văn hoá và kinh doanh tại các bảo tàng. Học giả và nghệ sĩ Ad Reinhardt, trong một bài bút chiến năm 1940 nhan đề “Làm thế nào để Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại trở nên Hiện đại?” đã hỏi thẳng: “Bảo tàng cần biến thành một doanh nghiệp ư?” Câu hỏi của ông cho đến nay vẫn được nhiều người nhắc lại. Năm 2013, Claire Bishop đã vận dụng tiêu đề bài viết của Reinhardt cho cuốn sách của mình với tựa đề “Bảo tàng học cấp tiến hay ‘đặc tính đương đại’ trong Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại là gì?”. Trong đoạn mở đầu, bà đã lập luận rằng “mở rộng quy mô và ngày càng tiệm cận tới hình thức doanh nghiệp lớn - đó là hai đặc điểm chính của quá trình chuyển từ mô hình bảo tàng thế kỷ 19 theo kiểu một địa chỉ sang trọng của tầng lớp ưu tú sang mô hình hiện đại có chức năng một ngôi đền dân túy mang tính vui chơi giải trí”.



    Công chúng trải nghiệm cảm xúc 'trượt ván dưới một tranh phiên bản' trong thời gian
    diễn ra cuộc triển lãm "Kissing the Canvas" ở Bảo tàng Tate Modern,
    tháng 7/2012.




    HUBERT ROBERT- Quang cảnh Gian Lớn của Louvre. 1796. Sơn dầu

    Báo The New York Times từng ví thập niên 1990 là thời kỳ “bùng nổ các bảo tàng kỳ vĩ nhất và lắm tham vọng nhất” trong lịch sử. Nhưng xét theo các tiêu chí ngày hôm nay - trong bối cảnh chính phủ Trung Quốc cam kết mở thêm 1.000 bảo tàng mới trong vài thập niên tới – thì thập kỷ này vẫn bị xem là quá ì ạch . Trong một hay hai năm qua, rất khó thống kê chính xác số lượng các tòa bảo tàng mới xuất hiện, những khu vực trưng bày mở rộng nào và các quỹ nghệ thuật tư nhân nào mới ra đời. Buổi khai mạc trọng thể nhất năm 2015 chắc chắn là lễ khánh thành bảo tàng Whitney Museum of American Art ở New York do Renzo Piano thiết kế, mặc dù bảo tàng mới đã di dời khỏi tòa nhà Upper East Side Marcel Breuer từng được nhiều người yêu thích. Tháng 3 năm 2015, phần mở rộng “Met Breuer” của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại Metropolitan đã đi vào hoạt động, trong khi bảo tàng vẫn tiếp tục mở rộng khu trưng bày “David Chipperfield” (dự kiến hoàn thành vào năm 2020). Chưa bị quá tải, song bảo tàng MoMA tại New York cũng có kế hoạch mở rộng thêm 1/3 diện tích trưng bày. Năm 2015, Bảo tàng The Broad khánh thành ở Los Angeles, còn Bảo tàng Nghệ thuật Berkeley đi vào hoạt động trong tháng Giêng 2016. Một trong hai bảo tàng mới ở vịnh Bay Area cũng đã khai trương trong năm 2015. Phần mở rộng của bảo tàng SFMOMA của kiến trúc sư Snohetta khánh thành vào mùa xuân 2016. Nhìn qua bờ Đại Tây Dương, ngay trong năm 2015, hai bảo tàng tư nhân đã ra đời: Fondazione Prada ở Milan và Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Garage ở Mátxcơva. Năm 2014, bảo tàng tư nhân Fondation Louis Vuitton của Frank Gehry chính thức đi vào hoạt động tại Paris. Vào mùa hè 2016, dự án kiến trúc mở rộng bảo tàng Tate Modern - một khối kim tự tháp 11 tầng - đã khánh thành, cho phép nới thêm 60% diện tích của viện bảo tàng nghệ thuật hiện đại và đương đại đông người xem nhất thế giới này. Ở vùng Vịnh, đồ án kiến trúc bảo tàng Louvre Abu Dhabi từng gây tranh cãi của kiến trúc sư Jean Nouvel cũng đã khai trương vào tháng 12/2015.


    Dự án mở rộng bảo tàng Tate Modern đã hoàn thành năm 2016. Nguồn: Hayes Davdson and Herzog & de Meuron.

    Nhiều người tin rằng các viện bảo tàng sẽ phải thay đổi theo chiều hướng khác chứ không chỉ đơn giản là trở nên đồ sộ hơn. Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, người tự mình thành lập Bảo tàng Innocence ở Istanbul vào năm 2012, đã lập luận rằng: “Chắc chắn rằng các viện bảo tàng càng nhỏ thì càng độc đáo và chi phí càng thấp.” Trong bài viết “Sau Khối hộp trắng” (After the White Cube) đăng trên London Review of Books đầu năm 2015, sử gia kiêm phê bình gia nghệ thuật Hal Foster đã chỉ ra rằng đã xảy ra tình thế tiến thoái lưỡng nan trong sự phát triển đa dạng của các không gian trưng bày nghệ thuật đương đại: trong khi các ‘khối hộp trắng’ (ám chỉ các phòng trưng bày hình hộp, tường sơn trắng - ND) vẫn chưa hoàn toàn biến mất, bản thân chúng ngày càng khác biệt hơn: đã ra đời các ‘khối hộp đen’ (để chiếu hình, video) và ‘khối hộp xám’ (hay những thứ mà MoMA mệnh danh là các ‘vịnh nghệ thuật’) đáp ứng nhu cầu trình diễn và khiêu vũ. Điều gì xảy ra tiếp theo, sau làn sóng hiện tại của các đồ án xây dựng bảo tàng? Đã đến lúc chấm dứt kỷ nguyên của chủ nghĩa bành trướng (an era of expansionism) hay bắt đầu một giai đoạn mới (a new phase) hay chưa? Thay vì tiếp tục duy trì và nhân rộng kiểu bảo tàng quy mô nhiều địa điểm trưng bày phân tán, liệu các hệ thống bảo tàng mới trên thế giới có nên áp dụng những mô hình tiên tiến và phi truyền thống kiểu mạng lưới, phối hợp, hoặc thậm chí các không gian trưng bày ảo?

    Andrea Tran

    Tài liệu tham khảo:

    1. Tate Etc. Issue 35, August 2015

    2. Frieze, Issue 175, Nov - Dec, 2015

    3. Research Project “What is the Future of the Museum”, Gensler, 2015

Share:         LinkHay.com