E-mail        Print        Font-size  
  • Bức tranh sơn mài "Ngàn thu nhớ Bác" của Phạm Hậu

    Phạm Hậu - Ngàn thu nhớ Bác



    Về mặt lịch sử, Phạm Hậu là một trong những họa sĩ đầu tiên nghiên cứu sơn ta - nhằm đưa sơn ta vào phục vụ hội họa. Và có thể nói trong lĩnh vực này, ông là người chuyển tiếp giữa Lê Phổ, Trần Quang Trân với Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn, và nhất là với Nguyễn Gia Trí - để định hình nên cái gọi là tranh sơn mài Việt Nam.

    Phạm Hậu sinh năm 1903 (mất 1994), quê làng Đông Ngạc (còn gọi làng Vẽ), huyện Từ Liêm, Hà Nội.

    Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 5 (1929-1934), ông sống và sáng tác ở quê. Nhờ thực hiện một hợp đồng do Victor Tardieu giới thiệu (50 hộp đựng thuốc lá bằng sơn mài), ông đã có vốn liếng để mở một xưởng họa. Huy chương vàng Salon 1935 (triển lãm lần đầu tiên của SADEAI): “Ông Phạm Hậu có một lối vẽ riêng hẳn, không giống ai. Ông thật là một họa sĩ có tài quan sát, biết vẽ những cảnh thường ngày diễn ra trước mắt, người và vật, rất hoạt động như thật” (“Ngày nay”, số 3, ngày 20/2/1935).

    1944, triển lãm chung cùng Nguyễn Gia Trí tại Nhà thông tin Tràng Tiền, Hà Nội: “Họa sĩ Phạm Hậu đã đặt sơn ta lên một địa vị rất cao trong nghệ thuật trang hoàng” (“Thanh Nghị”, số 77, ngày 5/8/1944).

    Từ 1949, ông tham gia thành lập và giảng dạy về nghệ thuật sơn mài tại Trường Quốc gia Mỹ nghệ (tiền thân của Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ngày nay). Hội viên sáng lập Hội Mỹ thuật Việt Nam.

    Nghệ thuật Phạm Hậu kết hợp kiến thức bác học châu Âu với sự cảm thụ tinh tế Á Đông, và luôn luôn được thể hiện bằng một kỹ năng “thủ công” đặc biệt tinh xảo, với hiệu quả vô cùng hoàn thiện. Các tác phẩm đa số ở dạng hội họa trang trÝ (peinture décorative), áp dụng trên đồ vị lợi như bình phong, trường kỷ, bàn ghế, hộp nữ trang, cánh tủ, thể hiện các mô-típ đặc trưng giai thoại Á Đông (sơn thủy, hoa điểu, cá vàng, nai rừng), phong cách sơn mài cổ điển đồng nhất. Nhiều bình phong có kích thước lớn (phong cảnh nông thôn đồng bằng hoặc trung du, Huế, Chợ Bờ, sông Đà) đều đã được mua và đem đi Pháp, Mỹ, Nhật Bản..., số còn lại ở Phủ Chủ tịch, Dinh Bảo Đại (Đà Lạt) hoặc ở các tư thất. Riêng ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam lưu giữ hai bức: Gió mùa hạGiông tố (sáng tác khoảng cuối những năm 1930 đầu 1940).

    Trong các họa sĩ Việt Nam, năng lực xử lý những tranh sơn mài có khuôn khổ nhỏ, thậm chí rất nhỏ, chắc chắn không ai sánh được với Phạm Hậu. Chỉ trên một diện tích trên dưới 300cm2 (tức khoảng một nửa diện tích A4 hoặc xấp xỉ khổ tranh tiêu chuẩn F1), ông đã có thể vẽ nên cả một phong cảnh rộng mênh mông, đủ tầng đủ lớp, với vô vàn chi tiết vân vi, bằng một độ chính xác đáng kinh ngạc. Từ mục tiêu trang trí trên các đồ vị lợi, nghệ thuật của ông thường đạt tới mục tiêu đích thực của hội họa. Kỹ thuật, ở đây, dường như đã trở thành “đề tài thứ hai” của tác phẩm, nó biến hóa cực kỳ linh diệu với một hiệu lực mạnh hiếm thấy.

    …Điều may mắn là hiện nay, ở nước ta, chúng ta vẫn còn có được ít nhất một hai tác phẩm khổ nhỏ quý giá như vậy của họa sĩ Phạm Hậu để chứng minh cho tài nghệ ấy của ông. Bức tranh sơn mài “Ngàn thu nhớ Bác” (30x20 cm), hiện nằm trong sưu tập của họa sĩ Lê Nguyên - chính là một ví dụ.

    Bức tranh có thể đã được Phạm Hậu sáng tác vào những năm 1969-1970, và dựa trên những tư liệu thông tấn khi đó. Ở đây, người họa sĩ đã thực sự thoát khỏi “thế giới vàng son” cố hữu của sơn mài cổ điển đồng nhất (laque unie) để hướng thực nghiệm hội họa vào một phong cách hiện thực, pha trộn nhiều kỹ thuật vẽ: sử dụng những vệt bút “gân guốc” như ở tranh sơn dầu, hình họa chuẩn xác, trang trọng, trong màu sắc giản dị, nghiêm trang nhờ các độ chuyển đổi sáng tối của sơn cánh gián.

    Sự công phu, lão luyện ở đây đã được dồn nén thành một hiệu quả tưởng chừng như thoáng chốc, dễ dàng. Tình cảm sâu lắng, tôn kính, thiết tha của người nghệ sĩ đối với vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc, bởi vậy, đã ngưng đọng, tự nhiên, chân thành mà khó phai.

    Quang Việt

Share:         LinkHay.com