E-mail        Print        Font-size  
  • Đôi điều về phòng tranh của họa sĩ Phạm Tuấn Dũng

    PHẠM TUẤN DŨNG - Những người muôn năm cũ. 2015. Sơn dầu


    Do nhiều lý do khách quan nên tôi không về kịp dự khai mạc phòng tranh của ông. Nhưng bên cái “rủi” lại có cái “quá may”, là giờ áp chót của hôm bế mạc, dù bận mấy tôi cũng phải thu xếp thời gian để đến chia vui với ông. Ấn tượng của tôi “cái may” ấy là lướt qua hai tầng trưng bày, thấy nhiều mảng tường trống, dây thép thi công treo tranh còn lủng lẳng. Mừng quá! Hơn chục ngày trưng bày ông đã chia tay mấy chục “đứa con” tinh thần. Thành quả của những tháng ngày nơi mà “mảng trời riêng bên bờ hồ Tây” luôn cửa đóng then cài hay rong ruổi trên chặng đường cây số, bên cạnh đống “vũ khí” toan, mầu, giấy, mũ bảo hiểm, xe máy phân khối cao… trang bị từ đầu đến chân như “dân phượt thứ thiệt”.

    Nói đến ông nhiều dân mộ điệu loại hình quý tộc này đã quen ông từ những năm 60 của thế kỷ trước. Nhiều họa sĩ trẻ cùng thời với ông, nay cũng đã thành danh và là đồng nghiệp với ông hiện tại. Có quá không, khi nói, ông là một trong những người say mê cho bộ môn đồ họa sau những năm đầu của 9 năm trường kì kháng chiến. Thông qua các tờ tân văn Thiếu niên Tiền phong, Thời mới, Tiền phong… mà ông là “tiền đạo cự phách” cùng thời với các họa gia Tôn Đức Lượng, Ái Nhi, Đặng Thạc, Phạm Đoàn Thanh, Triệu Khắc Lễ… Đến với hội họa từ khi mới giải phóng Thủ đô, hội họa của ông đúng như “khoảng trời riêng” không ồn ào, “ầm ĩ” hay sa đà vào sự tìm kiếm mà có những tác giả khi đặt bút ký tên lên tác phẩm của mình không hiểu mình biểu cảm gì trên mặt toan. Quan niệm của ông về nghệ thuật thật đơn giản; phải chấp nhận mọi hình thức, khuynh hướng, tìm kiếm. Song hình, bố cục, sắc màu phải đẹp, phải rung động, ấn tượng với một tác phẩm mới ra đời. Tuyệt đối không “làm xiếc” hay “vay mượn” của ai về chất xám.


    PHẠM TUẤN DŨNG - Nhà văn Chu Lai. 2016. Sơn dầu

    Có thể tác phẩm đó chưa tới độ chín, nhưng phải là của mình. Sự “mắn đẻ” của ông đã cho thấy sức làm việc đam mê, mặc dù ông đã vượt qua tuổi xưa nay hiếm, và đã chạm ngưỡng ngót “Bát thập”. Đến xưởng vẽ của ông mới thấy được điều đó. Một, hai hoặc ba khách thì còn có chỗ ngồi chứ quá con số ấy e rằng khó có chỗ len chân, bởi lẽ số lượng tranh đã hoàn thành và dở dang quá nhiều, toan mầu chiếm gần hết diện tích mà mảng trời riêng gia đình dành cho ông. Cách đặt vấn đề của ông qua từng tác phẩm cũng rất dung dị: một góc phố cổ, ngôi chùa cổ rêu phong với thời gian, một thiếu nữ với đôi mắt to và ngực căng đầy sức sống, một chiều bình yên nơi cao nguyên có vạt rừng ngút ngàn gió chướng, hoặc lặng lẽ đàn trâu bên sườn núi, thấp thoáng bóng dáng các sơn nữ bên rừng đào…

    Mảng tranh chân dung trong phòng tranh có thể thấy là thế mạnh của ông. Hàng loạt chân dung các văn nghệ sĩ, thiếu nữ, dân thường, người lao động được ông biểu cảm và lột tả được cái “thần” của từng người mẫu. Một họa sĩ Mai Long nhẹ nhàng, khác hẳn với sự dữ dội của nhà văn Chu Lai, một tác giả tiến quân ca, một nhà sư phạm hội họa hay suy tư của họa sĩ Lê Trí Dũng, hàng loạt chân dung của “Lá diêu bông” hay chân dung các phái đẹp. Ngôn ngữ tạo hình được ông khai thác triệt để không sa đà vào tô màu hoặc chép thật giống mà người xem thấy ông lột tả được cái thần, cái chất ngoài đời của người mẫu như “Người tạc tượng”, “Nhà văn Đỗ Chu”, “Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều”…

    Cuộc đời như dòng chảy bất tận, có thời gian ông xa cây cọ để tham gia công tác quản lí, tưởng chừng nghiệp hội họa dừng ở đây. Song như có ma lực sức hút vô hình và đây là dịp ông có điều kiện rong ruổi trên các chặng đường, trên mọi miền Tổ quốc để có “mênh mang sông nước Tuyên Quang”, “Ra khơi” hay bảng lảng mây trời qua “ngàn năm mây trắng” hay hàng loạt phong cảnh vùng trung du hay qua miền Tây Bắc đầy mộng mơ. Hay chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình… Xưởng vẽ ngay cạnh Hồ Tây trầm mặc, ông ẩn mình và từ đây hàng loạt các chân dung thiếu nữ, người thợ hồ, văn nghệ sĩ ra đời. Mầu sắc, đường nét gợi cảm của người mẫu được ông chắt lọc và như hút hồn người xem quá “chơi nghề”, “Tự họa”, “Bướm đậu không bay”, “Giai điệu” và đặc biệt là “Chiếc xe còn lại”… như níu kéo người xem. Hãy yên lặng, ém mình trong không gian tĩnh lặng để đối thoại với từng tác phẩm. Những bước chân khẽ khàng của khách, tốp ra, tốp vào mới thấy sự tôn trọng của sự yên ắng thì thầm của “Nắng chiều”, “Trước sách”, "Thiếu nữ áo trắng" hay "Những người muôn năm cũ". Hai tầng, hai phòng đầy ắp tranh như sợi dây cảm xúc xuyên suốt trong sự nghiệp cầm cọ của ông và mới thấy bút lực của ông còn “muôn năm mới”.


    PHẠM TUẤN DŨNG - Trong chùa Láng. 2009. Sơn dầu

    Thường thì các phiên chợ chiều hay đìu hiu, nhưng có chứng kiến mới thấy sự tấp nập của khách đến thưởng ngoạn tranh trong không gian cuối của chiều bế mạc: Một đôi vợ chồng ông Việt kiều xa xứ, một ông Tây ngoại giao, một ông chuyên gia bảo tàng, hai, ba thanh niên tây ba lô, hay một cô "đầu nậu" trong giới Gallery Tràng Tiền đến khuân tranh từ tầng hai xuống, chuyến "vét" cuối cùng như cuốn hút và muốn níu kéo thời gian mở cửa để thêm sự kiểm nghiệm cho khách, sau nhiều ngày xem và suy ngẫm để bổ sung cho bộ sưu tập của mình. Phòng tranh nào cũng thế, không tránh khỏi những lăn tăn trong đồng nghiệp “giá bố cục như thế này, giá như cách xử lý thế kia…” Khi đứng trước “Sen hồ Tây”, “Trăng đầu tháng”, “Hay giai điệu”… Các tác phẩm này chưa ăn nhập về bút pháp, màu sắc cùng một tác giả và vẫn thèm thời gian để diễn sâu.

    Là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Mỹ thuật Hà Nội. Các phần thưởng cao quí của Nhà nước như Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba; Huy chương vì Sự nghiệp Báo chí; Huy chương vì Sự nghiệp thế hệ trẻ; Huy chương về Sự nghiệp Mỹ thuật Thủ đô; Huy chương vì Sự nghiệp ANTQ đã ghi nhận đóng góp của ông. Đối với nghệ thuật hội họa người ta thường nói không có ranh giới về tuổi tác, bằng vị và phải chung thân với nghiệp cầm cọ đến khi nào không còn hứng thú nữa. Ở ông “Bát thập” mà mắt chưa mờ, chân chưa chậm là điều mong muốn của bao họa sĩ. Cuộc đời phía trước như vẫy gọi ông. Bè bạn đồng nghiệp và công chúng chờ đón sự “mắn đẻ” của ông – họa sĩ Phạm Tuấn Dũng.

    Giờ cuối cùng, ngày cuối tuần của phòng tranh “Khoảng trời riêng”

    Hà Nội, đầu mùa hoa gạo 2017

    Họa sĩ Lê Đức Biết

Share:         LinkHay.com