E-mail        Print        Font-size  
  • Một thời với Bùi Xuân Phái

    Họa sĩ Bùi Xuân Phái và nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm đang ngồi chơi nhà ông Phạm Văn Kỳ ở đường Nguyên Hồng.



    Tôi quen biết Phái vào một buổi tối mùa đông năm 1962. Trên căn gác nhà họa sĩ Nguyễn Dung ở phố Quán Thánh.

    Nghe biết tiếng anh đã từ lâu nay mới được gặp. Do anh gầy nên dáng người lại thành cao, trên vầng trán hói mái tóc thưa và đen; má hóp lại làm khuôn mặt đâm dài ra; đôi mắt trong xanh, thông minh và có nghị lực.

    Nhà thơ Trần Lê Văn thường gọi đùa anh là đức chúa Jesus.

    Anh quen nói to, giọng vang và ấm. Qua sự giới thiệu của Nguyễn Dung, tôi và anh trở thành quen biết.

    Anh rút ở trong túi áo lấy ra một chiếc bút máy và giở quyển sổ tay vạch vài ba nét đã thấy hình tôi hiện lên trên trang giấy. Vẽ xong anh tặng ngay tôi, mặc dù mới quen biết buổi đầu. Thầm ơn anh tôi có hỏi thăm địa chỉ.

    Cách vài ngày sau tôi có lại thăm anh ở căn nhà bên trong số 87 phố Thuốc Bắc, một gian nhà không rộng.

    Tiếp tôi ở trên gác xép, nếu đứng thẳng người thì dễ chạm đầu nên phải cúi lom khom. Gác lát bằng những tấm gỗ hòm nên không lấy gì làm chắc cho lắm. Diện tích vừa đủ trải chiếc chiếu rộng. Gần chỗ nằm kê chiếc tủ con đựng đồ lặt vặt. Mấy chồng sách báo cũ sắp xếp xung quanh.

    Trên tường móc vài bức tranh sơn dầu không khung. Một cây đèn bóng 75w xoay ngang mọi chiều đề chiếu ánh sáng. Hộp rửa bút là chiếc ống bơ đã rỉ, ngổn ngang mấy tuýp sơn dầu đang dùng dở dang đựng trong hộp thuốc vẽ bê bết màu sơn.

    Chiếc điếu cày để vào bên trong cái lọ sành. Anh nhấc chiếc điếu đặt mồi thuốc lào châm đóm hút, khi bỏ chiếc điếu ra lại húng hắng ho.

    Gần anh tôi thấy dễ mến vì anh ăn nói rất có duyên, tỏ ra là người lịch duyệt. Như câu chuyện anh thường nói đùa mang chất châm biếm hài hước rất tế nhị, nghe rất thú vị. Anh cười một cách sảng khoái, tiếng cười giòn giã rất khó quên.

    Tính chất hồn nhiên phóng khoáng nhưng rất nhạy cảm với hoàn cảnh xã hội thực tế và đời sống bên ngoài. Anh ghét nhất là lối đạo đức giả hoặc câu chuyện làm quà đãi bôi hay kiểu vuốt đuôi.

    Mỗi khi để tôi xem tranh anh lại lật chiếc chiếu mà anh đang nằm lấy ra những bức họa bằng bột màu hoặc mực nho. Có lẽ sức nặng trên con người anh nén xuống làm những bức tranh được phẳng phiu hơn. Anh đặt bức tranh lên trên miếng carton cứng. Cần thay đổi anh dùng bốn chiếc cột sắt. Tháo ra lồng vào lần lượt giở bức này qua bức khác.

    Xem xong tôi dè dặt không dám khen chê sợ nói ra không đúng ý. Vì khi đó tôi mới bắt đầu làm quen với hội họa. Nhiều lần qua lại tôi với anh đã trở nên thân mật và cũng học hỏi ở anh được nhiều điều hay.

    Tôi thường đến với anh vào buổi tối chuyện trò mới được lâu hơn. Có khi anh vừa vẽ vừa tiếp chuyện. Cũng tại nơi đây thường gặp một số bạn bè của anh nên tôi được quen biết nhiều thêm.

    Mùa hè nóng bức, ngồi trong nhà anh hơi nóng, một chiếc quạt con không đủ sức mát nên anh và tôi thường rủ nhau đến nhà bạn bè nào có sách họa để xem, vì hồi đó sách họa của anh có rất ít. Những người có nhiều sách hội họa là Linh Chi, Lợi búp bê, Duy Nhất và Nguyễn Dung.

    Gần thì chúng tôi thủng thẳng đi bộ, xa hơn thì đi xe đạp. Chiếc xe anh vẫn đi cọc cạch tay phanh lỏng lẻo, xích líp bị rão ra. Đi được một quãng lại phải xuống vì xích lại rời ra khỏi đĩa và líp.

    Mỗi lần như vậy, anh thở dài và ngao ngán. Tôi cho rằng tài năng của anh chưa gặp vận. Cuộc sống của anh khá chật vật cũng may được người vợ đảm. Sự nghiệp của anh cũng do người vợ đóng góp đôi phần.

    Khoảng năm 1965, Hội Mỹ thuật có trợ cấp cho anh mỗi tháng 80đ. Trong số 700 hội viên, có độ mươi người mới được hưởng đồng lương như vậy.

    Ngoài ra, anh làm thêm trình bày bìa sách, vẽ minh họa cho các báo. Thỉnh thoảng nhận công việc trang trí cho sân khấu kịch hoặc chèo. Vì thế, Trần Huyền Trân và Trần Hoạt thường đến gặp anh để bàn công việc. Nhờ đó, mỗi tháng anh thu nhập cũng thêm được dăm bảy chục. Họa hoằn lắm mới bán được vài bức tranh. Số tiền nhỏ nhoi cũng không đáng kể. Chị làm y tá tháng được dăm chục đồng. Về nhà lại phải làm thêm. Cứ chập tối lại có mươi người đến nhờ tiêm. Mỗi mũi tiêm lấy độ 0,20 đ. Trong gia đình có hai vợ chồng và năm con nhỏ. Ngoài ra còn nuôi thêm một bà giúp việc.


    Từ bên trái sang: Nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm, họa sĩ Bùi Xuân Phái, họa sĩ Nguyễn Thế Khang, họa sĩ Nguyễn Tiến Chung chơi chợ hoa Tết ở phố Hàng Lược, Hà Nội


    Với số thu nhập trên tránh sao cho khỏi phần túng thiếu.

    Hội Mỹ thuật có ưu tiên chiếu cố đưa anh một số tranh khắc gỗ Đông Hồ vẽ về “Bát Tiên quá hải” để anh tô màu bán vào dịp Tết. Anh nghĩ thêm được đồng nào trọng đồng ấy, miễn là có việc mà làm. Ban ngày làm việc mệt nhọc, tối lại thức khuya vẽ minh họa để kịp gửi đến tòa soạn. Đặt mình nằm chưa kịp chợp mắt thì đàn chuột đến quấy rầy, thường xuyên là bị mất ngủ.

    Có một thời anh lao đao tưởng như không bao giờ ngóc được dậy. Người ta chụp cho anh cái mũ là “Nhân văn giai phẩm”

    Sự thật là như thế nào?

    Nguyễn Phan Khôi lúc đó là chủ nhiệm tờ báo “Nhân văn”, chủ trương là trăm hoa đua nở. Tập hợp những cây bút như: Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Tử Phác, Hoàng Cầm, Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Hoàng Công Khanh,... Một số tả khuynh nặng phần phê phán nhiều hơn là xây dựng, nên báo ra được đến số thứ bảy thì bị đình bản.

    Trần Thiếu Bảo - Giám đốc nhà xuất bản Minh Đức có nhờ Bùi Xuân Phái và Sỹ Ngọc giúp cho phần minh họa. Phần minh họa anh vẽ con ngựa già của chúa Trịnh người viết bài là Phùng Cung.

    Phần châm biếm anh vẽ một người ôm một chồng mũ ở cửa hàng Mậu Dịch bước ra. Khi tờ báo bị đóng cửa, một loạt người bị đưa ra phê phán trở thành một phong trào chống Nhân văn. Vậy là lúc đó anh trở thành nạn nhân. Sự thực báo chí bây giờ phê phán còn mạnh gấp nhiều lần khi trước. Thế là một thời gian trên báo chí vắng hẳn tên anh. Gần anh, người ta sợ phải liên lụy đến bản thân. Tranh của anh viện bảo tàng cũng chẳng dám mua.

    Có lần tôi gặp họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, lúc đó đang làm Viện trưởng Viện Bảo tàng Mỹ thuật, tôi có hỏi về anh thì ông Cung rất ca ngợi. Nhưng nói chuyện về mua tranh thì ông có thổ lộ cho biết ngân sách nhà nước cấp cho viện rất ít ỏi. Mỗi khi mua bán phải họp lại đưa ra cân nhắc và định giá cả. Tùy theo chất liệu: sơn dầu, sơn mài, lụa, giấy theo m2 mà tính thành tiền. Đề tài phải là “chiến đấu và sản xuất”.

    Rắc rối lắm! Có lẽ ngoài Việt Nam ra trên thế giới này chẳng có nước nào mua tranh nghệ thuật kỳ quặc như vậy.

    Nghĩ như thế thì tranh của anh khó lọt vào được trong bảo tàng. Ngay một số vựng tập điểm khi đó cũng vắng hẳn tên anh (không thể vượt qua được cũng là một hạn chế tất yếu của thời đại).

    Khi vẽ, anh không nghĩ gì phải chọn đề tài. Thích vẽ mấy phố cổ, nông thôn, cảnh biển, chèo, chân dung, tĩnh vật.

    Người hâm mộ thì kính nể và trọng vọng anh. Chẳng cần phải khua chuông gõ mõ. Tranh của anh đã vượt ra ngoài biên giới. Nhất là Việt kiều và người nước ngoài rất thích tranh của anh.

    Boudarcel người Pháp là Nhà sử học và viết báo công tác lâu năm ở Việt Nam, trước khi về nước có ghé thăm anh. Anh tặng cho bức tranh phố cổ khuôn khổ nhỏ bằng tờ bìa quyển sổ tay. Ít lâu sau, anh nhận được hai cuốn Picasso loại khá to và dày của Boudarel ở Pháp gửi tặng. Giữ được ít lâu vì túng tiền anh lại nhường lại cho Đức Minh hai cuốn sách đó 180đ.

    Bán đi anh rất lấy làm tiếc. Vì anh là người rất quý sách và ham đọc sách.

    Mãi đến gần cuối đời do tiền bán được tranh anh đã mua được một số sách họa tương đối tốt. Một phần nữa cũng do bạn bè thân quen tặng.

    Trong câu chuyện về hội họa anh thường ca ngợi những họa sĩ bậc thầy ở Tây phương.

    Anh thích tranh của họa sĩ cận đại hơn là thời Phục hưng như: Cézane, VanGogh, Gauguin, Matisse, Fernand Leger, Marc Chagall, Braque hay Picasso.

    Còn như Leonardo de Vinci, Rembrandt hay Raphael, anh cho là già cỗi mặc dù tên tuổi các họa sĩ này đã nổi danh hàng mấy thế kỷ nay.

    Lối méo mó nguệch ngoạc như Foutme hoặc nhấn mạnh đường viền như Rounalt anh thích thú hơn là Degas và Renoir. Lối vẽ của Bernard Buffet anh cho là khô khan cứng nhắc.

    Đối với họa sĩ Việt Nam theo anh nhận định có Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân và Nguyễn Tư Nghiêm là đáng thán phục.

    Anh cho rằng họa sĩ là phải sáng tạo, luôn luôn tìm cái mới vẽ ngày hôm nay phải khác ngày hôm trước. Phải chịu khó tìm tòi. Đừng cho mình là vương tướng. Kẻ vỗ ngực cho mình là hay chính ra lại dở hơn nhiều người khác.

    Anh đã phá lối hàn lâm và cách dạy của nhà trường. Anh cho rằng cứ theo cách học vẽ cách dạy như thế thì sẽ thui chột tài năng. Lối vẽ khéo tay đôi khi làm hỏng nghề nghiệp. Chính cái vụng lại giúp cho sự thành công trong nghệ thuật.

    Bàn tới cái đẹp, anh cho đường nét bộ mặt của Trương Phi mắt ốc nhồi, râu chổi xể còn hơn lối đẹp trai kiểu đàn bà như Lã Bố.

    Từ Hải râu hùm, mày én mắt xếch ngược, trông hiên ngang hơn là lối thư sinh của anh chàng Kim Trọng.

    Lời nói sâu sắc càng nhìn nhận càng thấy đúng. Anh quan niệm học để mà biết khi ra khỏi trường là phải rũ sạch cái đã học để tự tìm cho mình một con đường và một chỗ đứng. Cho nên tranh của anh không giống một ai, không cần phải ký tên mà người ta cũng nhận ra được. Nét bút phóng túng, gam màu lạnh mà trông vẫn ấm, màu nóng cảm như tươi mát. Tranh ở người khác có khi chỉ nhìn vài bận là đã chán mắt. Còn tranh của anh lúc nào nhìn cũng thấy như mới. Cái khó trong tranh là ở chỗ đó.

    Làm việc mệt nhọc hoặc thức quá khuya anh thường dùng đến café, đôi lúc cũng uống rượu những lúc gặp bạn vui chơi hoặc thù tạc thường chạm chén với Nguyễn Sáng và Dương Bích Liên. Rượu anh quen dùng là loại quốc lủi, quán rượu anh thường lui tới ở phố Hàng Mành.

    Lê Chính làm trình bày cho báo Văn nghệ, thường đến anh để trả tiền minh họa. Anh lại kéo đến đấy uống rượu. Ở đó, hay gặp Văn Cao và một số anh em khác.

    Rượu ngà nhà anh lại lững thững đến Trần Văn Lưu làm nhiếp ảnh ở phố Hàng Bông. Ở đây lại thường chạm trán với Vũ Đình Liệt, Đoàn Phú Tứ và Trần Lê Văn.

    Đôi lúc, trong túi rủng rỉnh anh lại la cà đi ăn quà sáng ở ngõ Hàng Giầy, vào chợ Hàng Da ăn bún thang hoặc ra phố Lương Văn Can ăn sủi cảo.

    Món ăn anh thích nhất có lẽ là chim quay. Có cậu tên Quốc Hùng nắm được ý thích ấy nhưng cũng chỉ hứa suông với anh, chẳng bao giờ thết nổi anh được một bữa.

    Có lúc cao hứng anh đi xa hơn lên mạn hồ Tây lúc trở về qua đường Yên Phụ ghé vào nhà Trần Thịnh. Trần Thịnh cũng là anh chàng ưa thích nghệ thuật, nhưng túi rỗng vì bao năm thất nghiệp nằm nhà. Trong bụng Thịnh muốn thết đãi Phái, nhưng cố gắng lắm cũng chỉ được một hai chén rượu suông hoặc rôm rả lắm thêm được đĩa lạc rang là cùng.

    Anh ham vẽ lắm, ngồi đâu vẽ đấy bất kể ở đâu, mất mảnh giấy còn, một tờ báo cũ, thậm chí có khi chỉ là vỏ bao diêm, vỏ bao thuốc lá, nắp hộp mứt, nắp hộp kẹo, quệt vài ba nét cũng trở thành tranh. Có nhiều bức hay hay anh giữ lại. Ai thích anh cho. Bức nào không thích hoặc chưa vừa ý anh vò xé quẳng vào sọt rác chẳng tiếc tay.

    Sơn trắng là một nhu cầu không thể thiếu được đối với anh. Quốc Hùng có lần kiếm đâu được một tuýp sơn trắng mang đến tặng anh, nhưng lại muốn xin bức tranh sơn dầu khổ 40x60 vẽ chân dung Trần Thị Mỹ. Anh chẳng suy tính thiệt hơn cho ngay Quốc Hùng. Quốc Hùng mang về nhà treo được ít lâu sau lại bán cho ông Lương Xuân Huệ ở phố Hàng Muối với giá 60đ.

    Khi ông Huệ mất đi, ông Can ở phố Cửa Bắc lại mua được. Ngô Luân biết Can không phải là người chơi tranh đem chiếc khung kính to bằng cỡ đó đến đổi. Sau cùng, bức tranh đó lọt vào tay một chuyên gia Thụy Điển công tác ở Nhà máy giấy Bãi Bằng với giá 28.000đ (thời điểm 12/1984).


    Từ bên trái sang: Nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm, họa sĩ Bùi Xuân Phái và một số bạn bè đang ngồi trò chuyện.

    Hội Mỹ thuật hồi đó thường tổ chức cho những anh em hội viên đi thực tế để dựa theo đó mà sáng tác. Khi thì anh cùng đi với Lê Quốc Lộc đến nhà máy thủy điện Sông Đà hay ra cọc 6 mỏ than Hòn Gai cùng với Phan Kế An, Huỳnh Văn Gấm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm và Nguyễn Tiến Chung. Khi thì vào Hội An cùng với Nguyễn Văn Tỵ và Phan Kế An. Đến đâu anh cũng vẽ và mang về rất nhiều tranh.

    Tháng 6/1965 anh có chuyến đi thực tế vào Sầm Sơn, Thanh Hóa. Cùng đi với anh có Nguyễn Tiến Chung và một số anh em họa sĩ khác. Anh tranh thủ vẽ về cảnh biển: những chiếc thuyền mảng nằm trên bãi cát, những người thuyền chài kéo lưới ... sau đó, anh mang về Hà Nội để trưng bày.

    Bảo tàng Mỹ thuật có mua của anh bức ký họa vẽ một ông già ngư dân đầu đội mũ lá, quần xắn móng lợn, tay xách xâu cá. Khuôn khổ bức tranh bằng ¼ tờ giấy croquis (rôky)với giá 200đ thời điểm đó vào quý III năm 1965.

    Anh cười tủm và nói với tôi một cách châm biếm. Họ trả giá cao như thế là họ đã biết điều lắm. Số người chơi tranh ở Hà Nội đâu phải là nhiều. Nếu có bỏ tiền ra mua, khéo lắm cũng chỉ vài ba nghìn là cùng. Trông vào tiền bán tranh thật khó sống lắm. Đức Minh giàu có nổi tiếng nhưng thích kiểu mua mớ. Khi nào mua xong bao giờ cũng cố nì nèo thêm một vài bức mới nghe. Café Lâm thì lại nhờ tác giả chọn hộ. Bao giờ nhà đó cũng thật thà nói trước “Bức nào bác cho là đẹp thì bác chọn hộ em”.

    Nếu cần tiền muốn bán đến tranh đâu có phải là chuyện dễ...!

    Lần đầu tôi hỏi mua tranh, anh chỉ tay bức tranh đang treo ở trên tường nói: “Nguyễn Dung vừa mới bán cho Đức Minh bức tranh sơn dầu khổ to bằng thế này vẽ tĩnh vật với giá 180đ”. Rồi anh khiêm tốn, giọng hài hước nói với tôi: “Tài tôi may ra bằng nửa tài Nguyễn Dung, chỉ xin với nửa giá đó”. Tất nhiên, tôi với anh giá cả thế nào cũng xong. Dù sao đối với tôi anh vẫn ưu ái hơn mọi người khác.

    Cóp nhặt dần dần qua nhiều năm tranh của anh có ở trong tay tôi trên 40 bức vừa sơn dầu vừa bột màu. Ngoài ra có tới 200 ký họa chân dung anh vẽ về tôi. Có bức ký họa nào bạn bè thích tôi tặng lại.

    Tay Bổng ở Hàng Buồm có lấy của tôi một số và đưa lại tôi một số bát đĩa cổ.

    Có lần Nguyễn Bích công tác ở Hội Mỹ thuật đi cùng với Thanh Tịnh và Nguyễn Sáng đưa ngài Jorland là tham tán văn hóa đại sứ quán Pháp đến tôi.

    Sau khi xem bộ sưu tập tranh của tôi Jorland cũng cho biết ông ta có trên 80 bức tranh của Phái hiện đang bầy một phòng riêng trong sứ quán pháp tại Hà Nội và ý định của ông còn tiếp tục mua thêm nữa.

    Nhớ lại trong thời gian kháng chiến chống Mỹ có khi đang ngồi chơi với tôi thì còi báo động anh vẫn ngồi nguyên tại chỗ, chờ còi báo yên anh lại tiếp tục vẽ. Dừng tay cảm như anh thấy bút dứt khó chịu.

    Giải phóng Sài Gòn được ít năm sau, Lê Đại Chúc công tác ở ngành Hàng hải được biết tiếng anh nên trân quý mời anh vào Sài Gòn chơi.

    Anh nhận lời và chuyển đi Sài Gòn năm đó vào trung tuần tháng 9/1979. Ở nhà Chúc mỗi bận đi chơi đâu về anh phải leo lên tầng bốn khá mệt vì thang máy bỏ xó. Vào đó, anh được gặp một số bạn bè quen biết như: Thái Tuấn, Lưu Công Nhân, Nguyễn Gia Trí.

    Trong thời gian ở đó, khi thì Đỗ Hải mời anh về nhà xem tranh; hôm thì Trọng Tín và vợ là Huỳnh Nga mời anh đến nhà uống rượu. Hàng ngày, Lưu Công Nhân chịu khó đèo xe đưa anh đi khắp nơi đến thăm vườn Tao Đàn, sở thú Thảo Cầm Viên... đến thăm nhà Nguyễn Gia Trí ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trí gặp Phái lấy làm mừng rỡ vì xa cách nhau 26 năm trời bằng 1/4 thế kỷ. Ngồi đối diện với nhau đôi bên chuyện trò lấy làm tâm đắc. Khi ra về Trí tiễn Phái đưa ra cổng ... tay nhau mà vẫn tỏ tình lưu luyến.

    Ở nhà Chúc trên đường Nguyễn Huệ, ngồi ở balcon nhìn xuống, anh vẽ một số cảnh về bến tầu bằng sơn dầu. Khi ra Hà Nội, anh để lại cho Chúc.

    Trong vài tuần ở Sài Gòn anh có viết cho tôi hai lá thư. Một bức đề ngày 28/9/1979 và một bức đề ngày 29/10/1979... lời lẽ chân tình và dí dỏm.

    Năm 1981, anh và Văn Cao được hội Văn nghệ ở CHDC Đức mời sang chơi hai thành phố Dersden và Leipzig. Trong thời gian đó, anh đã đến thăm các Viện bảo tàng Nghệ thuật, được tận mắt nhìn những bức tranh nguyên bản của các họa sĩ bậc thầy Tây phương ở nhiều thế kỷ. Anh cho là cực kỳ bổ ích và lý thú.

    Có một họa sĩ người Đức mến mộ mời anh về nhà. Nhìn trang trại và ngôi nhà khang trang anh thấy mâu thuẫn với tài năng... mà cơ nghiệp của họa sĩ kia kiếm được bằng tiền bán tranh.


    Nhà sưu tập Đức Minh và nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm chụp ảnh tại nhà ông Đức Minh ở phố Bà Triệu, Hà Nội

    Thời gian từ 22/12/1984 - 22/1/1985, anh có triển lãm tranh ở phố Ngô Quyền, trưng bày 107 bức họa vừa sơn dầu, vừa bột màu. Trong một vài ngày đã bán được 25 bức. Một con số kỷ lục về bán tranh trong các cuộc triển lãm ở Việt Nam từ trước tới nay. Cuộc sống của anh đã bắt đầu trở nên khấm khá. Kinh tế trong gia đình đã có nhiều thay đổi mới đáng mừng.

    Các nhà quay phim vô tuyến truyền hình trong và ngoài nước đã tìm đến anh. Nhà người quay phim Australia cũng cố mời bằng được để anh ra phố quay về phố cổ.

    Báo chí trong nước và nước ngoài kể cả Việt Kiều ở xa đất nước cũng hướng về anh. Mấy năm về trước anh cũng được giải thưởng cao về trình bày bìa sách ở hội chợ sách quốc tế tại Leipzig, Đông Đức (cũ) vẽ về “Hề, chèo”.

    Các cuộc triển lãm ở trong nước, nhiều năm anh cũng được giải thưởng. Danh vọng và tiền tài đã đến với anh lúc này không thiếu.

    Điều mơ ước ở anh trong lúc này chỉ cần một “Atelier” (xưởng vẽ) để làm việc. Thêm một điều ước muốn nữa là được đặt chân đến Paris, thủ đô nước Pháp. Nếu tới đó, anh sẽ đến thăm viện bảo tàng Lourve và Musée dArt Moderne để được chiêm ngưỡng những kiệt tác của các nhà đại danh họa tầm cỡ thế giới. Những điều ước mơ đó đối với anh không khó. Nhưng đến khi qua đời anh vẫn chưa thực hiện được ý muốn.

    Nhớ đến hàng năm cứ vào dịp Tết anh lại vẽ một số thiếp chúc Tết. Lấy con vật của một năm làm đề tài. Năm thì vẽ con gà, con lợn, năm thì vẽ con ngựa, con dê. Bạn bè thân ái đến chơi hoặc anh đến nhà ai chơi anh đều tặng.

    Tết năm Mậu Thìn 1988, tôi đã mấy ngày đợi anh ở nhà vẫn không thấy anh lại. Khác hẳn với mọi Tết. Mọi khi thường anh đến tôi hoặc tôi đến với anh trong hai ngày mồng một hoặc mồng hai.

    Nóng ruột quá, chiều ngày mồng năm tôi đến thăm anh, thấy còn trùm chăn kín mít. Nghe thấy tiếng tôi, anh vùng dậy, trong người hãy còn nồng men rượu. Để che lấp sự vắng mặt trong mấy ngày qua, anh vội khoe với tôi là Kỳ mới tặng mình một bài thơ. Nhìn lên trên tường thấy bài thơ đưa bồi dán cẩn thận... lời trong thơ “Nhập trong phố cổ Bùi Xuân Phái mấy nét chân tình cảm thụ tranh”.

    Ấm sắc thời gian lạnh sắc mở/ Mảng màu trăn trở nét suy tư/ Ngả nghiêng phố cổ Bùi Xuân Phái/ Say chất tài hoa ngọt chất thơ/ Trầm tư cảnh cũ vọng thời qua/ Sáo động không gian nét đậm đà/ Ngõ hẹp mái xiêu đường quạnh quẽ/ Mà nhìn vời vợi bóng hình xưa.

    Tám tám Mậu Thìn xuân gửi Phái

    Bạn cũ Văn Kỳ tuổi 73

    Ông bạn Phạm Văn Kỳ thân với anh hồi còn làm ở báo Sinh Lực. Phái rất quý Kỳ, con người mang chất hào hoa phong nhã. Khi ra về, anh cũng không quên tặng tôi tấm bưu thiếp chúc Tết đề Xuân Mậu Thìn 88, vẽ một thiếu nữ trần trụi mình như con cá đang bơi đứng ở mặt nước.

    Lại nói về chuyến đi Pháp. Năm 1982, phong thanh nghe tin anh được mời sang Pháp, chẳng hiểu trục trặc do đâu mà mãi hè 1988 chính thức anh mới được giấy mời và phải gửi gấp 6 tấm ảnh 4x6 để làm hộ chiếu. Theo kế hoạch, cùng đi có họa sĩ Bửu Chi người Huế.

    Rủi cho anh lúc này đang ốm thể lực mỗi ngày một xấu đi. Anh phải điều trị tại bệnh viện Việt - Xô để tiếp thêm đạm. Tuy vậy anh vẫn phải lạc quan tin rằng bệnh tình sẽ qua khỏi. Trong quyển sổ tay anh có ghi mấy dòng chữ: “Rất vui mừng nhận tin chuyến này mình được sang Pháp, vợ con cũng lấy làm vui”.

    Ít ngày sau ở bệnh viện về tôi có lại thăm. Thấy bóng dáng tôi chị Phái tỏ vẻ vui mừng khoe với tôi anh đã ăn được khá hơn trước, tuy nói năng vẫn phải dùng đến bút đàm.

    Rút trong chiếc cặp da lấy ra bức ảnh chân dung cỡ 9x12 anh ghi mấy chữ: Thân tặng cụ Đạm một bức ảnh rất xưa - HN, 11/5/1988”.

    Cầm tấm ảnh, tôi không nhận được ra anh vì lúc đó anh là một thanh niên đẹp trai tuổi mới 21 đang học ở trường Mỹ thuật Đông Dương. Cách nhau 48 năm rồi làm gì mà không khác.

    Tôi thường quen nhớ đến tuổi mụ vì anh sinh năm Canh Thân 1920, cùng tuổi với Duy Nhất nhưng trong giấy khai sinh lại ghi là 1/9/1921 để xin vào học cho dễ.

    Bâng khuâng đi đường tôi suy nghĩ có việc qua lối Tràng Thi gặp Thái Bá Vân hỏi tôi: Trong mấy ngày gần đây anh có đến Phái không ?

    Tôi trả lời: Vừa ở nhà Phái ra.

    Vân hỏi: Anh thấy thế nào ?

    Tôi nói: Sức khỏe xem ra khá hơn mấy hôm nọ

    Vân cho biết là anh (Phái) bị “can xe” (ung thư) gia đình giấu không cho Phái biết.

    Lòng tôi se thắt lại... nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ.

    Cách vài tháng sau đến thăm, thấy anh ngả người trên chiếc ghế bành mắt lim dim lúc nhắm lúc mở, thấy tôi anh choàng dậy gật đầu, chào còn có vẻ mệt mỏi. Nhìn kỹ sắc thái lúc này đã thấy sút hẳn. Không làm phiền hỏi nhiều để anh phải mệt thêm. Giữ ý tôi cáo từ ra về sớm hơn mọi bận.

    Hà Nội trong mấy ngày qua thật oi bức, nhiệt độ từ 35-36 độ. Nóng cả ban ngày, nóng cả ban đêm. Cứ hầm hập. Chiều tối 23/6, cơn giông to ập đến, mây đen mù mịt lác đác có vài giọt mưa, sau trở thành nặng hạt. Nhiệt độ trong người anh cũng bắt đầu thay đổi. Sau giờ vô tuyến trong người anh cảm thấy khó thở. Gia đình bối rối. Chị và các cháu thấy cần phải đưa ngay anh vào viện để cấp cứu. Cháu Phương đi kèm cùng anh từ nhà ra đường, lúc đó anh còn kéo lê đôi dép tự đi một mình. Vào tới bệnh viện Việt - Xô, bác sĩ và những người trực ca đêm đó đã tận tình cứu chữa dùng phương pháp hồi sức bằng cách cho thở ô xy.

    Nhìn điện tâm đồ thấy hơi thở tụt dần. Tim anh bắt đầu ngừng đập vào 20h40 ngày 24/6/1988...

    Thế là Hà Nội đã mất đi một họa sĩ tài hoa. Đất nước mất đi một danh họa. Nhưng Bùi Xuân Phái đã để lại cho đời những bức tranh đáng ghi nhận.

    Hè 1989
    Nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm

Share:         LinkHay.com