E-mail        Print        Font-size  
  • Bí ẩn Nguyễn Tư Nghiêm

     NGUYỄN TƯ NGHIÊM - Múa cổ. Bột màu. 78x55cm



    KỶ NIỆM MỘT NĂM NGÀY MẤT HỌA SĨ NGUYỄN TƯ NGHIÊM (15/6/2016 - 15/6/2017)


    Đào Trọng Khánh sinh năm 1941, nguyên quán Phương Lung, xã Hưng Đạo, huyện Kiến Thụy (nay là Dương Kinh), ngoại ô - nhưng gắn bó với đô thị Hải Phòng. Sau khi về hưu, ông từ Hà Nội về Hải Phòng sống. Là một trong các nhà làm phim tài liệu hàng đầu Việt Nam, sự nghiệp có hàng chục phim để đời, sản xuất tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, nơi Đào Trọng Khánh công tác từ 1967-2005. Ông từng học khóa quay phim khóa chống Mỹ đào tạo phóng viên chiến trường để đi B, cùng: Trần Văn Thủy, Thanh An, Lâm Quang Ngọc... từ 1965-1967, sau đó vào đường 9 Nam Lào. Ông thường viết kịch bản, lời bình cho các phim của mình. Được nghe Đào Trọng Khánh nói chuyện thì thật tuyệt vời. Kiến văn rộng, lối nói lôi cuốn, ăm ắp hình ảnh và chi tiết quý, phát hiện lạ, lại hài hước cực duyên. Cũng như những bài thơ sáng tác từ hơn 50 năm trước với bút danh Đào Nguyễn, câu chữ của ông sống động, giàu hình ảnh, xúc cảm và độc đáo. Chỉ xét về thơ, dù chưa hề xuất bản tập nào, Đào Trọng Khánh đủ tầm cỡ top những cây bút đáng nể của văn nghệ Hải Phòng và Việt Nam... Những người tài thường có duyên và tìm đến nhau. Tình bạn đặc biệt của ông và Lưu Quang Vũ từ 1965 đã làm nên đôi tri kỷ luôn thấu hiểu, nâng đẩy, kích thích sáng tạo cho nhau. Họ chung nhiều kỷ niệm quý báu và vô giá. Họ là nhân chứng của nhiều tác phẩm sống cùng thời gian, một số là những câu thơ đỉnh cao và vở kịch bất hủ. Hơn kém nhau 7 tuổi, Khánh và Vũ xưng hô ông - tôi, họ vào thơ nhau, cùng liên cảm những nguồn thơ, ý tưởng nghệ thuật. “Đêm Đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh” là bài thơ đầy dấu ấn thời cuộc, lịch sử vượt lên khỏi mối quan hệ bạn bè. “Với tôi, Vũ không mất đi, không qua đời. Chúng tôi vẫn sống trong tình bạn hơn nửa thế kỷ, cho đến khi được đoàn tụ với nhau ở cảnh giới bên kia. Chúng tôi vẫn hằng trò chuyện trong nhớ nhung, hoài niệm, trong giấc mơ và tâm tưởng.” Bài viết sau đây của Đào Trọng Khánh mang tính văn học sử của một thời trai của những chân tài, thiếu thốn vật chất mà tràn đầy hoài bão, đam mê. Những người bạn ấy như những cơn mưa rào vẫn còn mưa trong thổn thức và trái tim tuổi trẻ. Sapo giới thiệu bài viết của nhà thơ VI THUỲ LINH

    Mấy chục năm qua, nhớ lại ngày tôi đi làm bộ phim “Điệu múa cổ (năm 2000) về danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm, ông tặng tôi bức tranh hình con Rồng nom hao hao một đám mây. Tôi bâng khuâng định viết bài này nhưng cứ lần hứa mãi. Cho đến hôm 15 tháng 6 năm 2016, ở dưới tôi (Hải Phòng) mưa, bão, sấm chớp đen đầy trời, những đám mây hình con Rồng mang tin Nguyễn Tư Nghiêm (1918-2016) đã qua đời, sống gần 100 tuổi.

    Hồi làm phim về Nguyễn Tư Nghiêm, tôi nghe ông nói về Âm Dương trong hội hoạ, mỗi khi ngắm nhìn vầng mặt trời đi trên doi cát sông Hồng, để rồi mặt trăng hiện lên trên phố cổ Hà Nội, tôi cũng mơ hồ cảm thấy vẻ đẹp vĩnh cửu về sự chuyển dịch của Âm Dương trong thế giới tinh thần của những bậc thầy hội hoạ.


    NGUYỄN TƯ NGHIÊM - Múa cổ. 1993. Sơn mài




    Ảnh chụp họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm (1922 - 2016) tại nhà riêng của ông ở phố Phan Bội Châu,
    tháng 1/2016, nửa năm trước khi ông mất vào tháng 6/2016.

    Nguyễn Tư Nghiêm có một cảm nhận sâu sắc với sự chuyển dịch của Âm Dương giữa những biến đổi về màu sắc trong tranh, phù hợp với tình cảm hồn nhiên trong tâm hồn mình.Trong “Mười hai con giáp” và “Điệu múa cổ”, ông đã tìm thấy trong suy ngẫm của mình những ý nghĩa sâu sắc về Mỹ học. Tôi ghi được trong phim đoạn ông nói về nhận thức: “ Nhận thức là một dạng trở về căn nguồn đúng nhất của con người. Hội họa và điêu khắc là mặc niệm, là Đạo dẫn tới một trạng thái tối thượng, nơi không còn cái ý nghĩa cắt lìa giữa con người và vũ trụ, con người và sinh vật, đá và cây, sông và núi. Tất cả chỉ còn là một bản chất” . Có thể vì vậy mà ông say mê những phù điêu đá cổ của các đình chùa, nơi cảm xúc thẩm mỹ đã đặt trọng lượng đáng kể của mình vào cái tưởng như không có gì?

    Ông nhớ lại: Năm 1943, thời gian ở Sơn Tây, ngày ông còn đi học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung hay rủ Nguyễn Tư Nghiêm đi vẽ phong cảnh và thăm những di tích cổ. Đặc biệt, vùng này có nhiều ngôi đình làng thuộc loại cổ nhất nước ta. Những cảm xúc mạnh mẽ ban đầu ấy còn để lại ấn tượng trong việc mở ra một lối rẽ rất riêng, chỉ có Nguyễn Tư Nghiêm mới có. Để rồi sau này xuất hiện những biến tấu của điệu múa cổ - bao gồm nhiều tác phẩm sơn mài về chủ đề này đã được các nhà phê bình mĩ thuật đánh giá là đỉnh cao nghệ thuật của ông. Một trong những bức múa cổ của ông được nhận giải Vàng chính thức của triển lãm Hội hoạ Quốc tế tại Sofia(Bulgaria) năm 1986.

    ...Ông cố vẽ thêm một bức Múa cổ nữa bằng bột màu để tôi ghi lại trong phim. Trong ánh sáng mờ ảo của căn phòng hẹp, từ tay ông hiện ra điệu múa của các cô gái Việt xưa với cả vũ điệu và âm nhạc. Như một ánh tà dương hắt lại từ xa xưa, múa cổ chen chúc nhân vật già, trẻ, nam nữ với những dáng điệu kì lạ như ở các động Phật đắp đất tô màu ở các ban thờ nhỏ chùa miếu với tượng đồng, gỗ, sơn thiếp, lên xuống, qua phải, sang trái... ẩn hiện sau hoa cúng và hương khói. Tất cả còn nguyên cái hơi thở nồng ấm của cuộc sống hiện về từ quá khứ.

    Tranh của Nghiêm là một thế giới đa tầng, nơi người ta có thể cảm nhận được ấn tượng nghệ thuật đến từ nhiều chiều trong tâm thức của ông. Những tranh Gióng với đường nét miên man ẩn hiện gọi nhớ tính chất Đông Sơn, đưa tâm thức về với cội nguồn. Tranh Kiều và những bức tranh khác đầy biểu cảm với nét vẽ như toả ra từ xúc động nội tâm con người. Mỗi độ Xuân về, Tết đến, ông lại khai bút mảng tranh giấy với những con giống trong bộ “12 con giáp” một cách cần mẫn, miệt mài, đầy cảm hứng như ông đồ xưa ngồi viết chữ Hán trên vỉa hè Hà Nội. Những bức tranh như báo hiệu được trước thời gian để lộ những tình cảm bâng khuâng chờ đợi một chu kì làm mới lại của vạn vật làm ấm lòng người.


    NGUYỄN TƯ NGHIÊM - Múa cổ. 1994. Bột màu. 78x55cm. Sưu tập: Thu Giang


    NGUYỄN TƯ NGHIÊM - Rồng. 1976. Bột màu. 78x55cm

    Hà Nội phố - gắn liền với cuộc đời và nghệ thuật của các hoạ sĩ. Nguyễn Tư Nghiêm nói rằng: “Hà Nội là một phần cuộc đời của tôi. Lắng nghe trong lòng phố cổ như có tiếng đồng vọng về tâm hồn mình. Ở Hà Nội tôi có những bạn bè thân thiết gắn bó với hội hoạ, có Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái và các bạn khác. Có quán rượu Thủy Hử ở ngoài ga cạnh đường tàu, nơi chúng tôi gán tranh cho chủ quán treo lên tường để đổi lấy rượu...”. Quán Thủy Hử ngày nay không còn, nếu còn cũng chẳng có người trở lại. Chân mây cuối trời ở cõi bên kia đã quá xa xôi cho những người uống rượu tìm về. Những bức tranh treo ở trên tường cũng không còn nữa. Bức tranh Rồng ông cho, tôi cũng đem đổi rượu. Như trong thơ cổ, “Đám mây hình con Rồng”, giờ đây không biết đã làm mưa ở chốn nào?

    Cuộc đời cũng như tranh của Nguyễn Tư Nghiêm không có cái có và cái không có.Chúng lướt qua nhau, xâm lấn vào nhau, không có sự phân chia cứng nhắc và vô nghĩa của đời sống thực. Ý tưởng nghệ thuật im lặng giấu mình của Nguyễn Tư Nghiêm nói lên nỗi lo âu của con người và dân tộc. Những gì còn lại trong tranh của Nguyễn Tư Nghiêm chỉ là một phần bé nhỏ của tâm hồn ông. Cuối cùng chúng ta trả lại thiên nhiên tất cả những gì mà chúng ta đã có - đó là vinh dự lớn nhất mà nghệ thuật có thể đem lại cho con người. Bởi thiên nhiên là vĩnh cửu mà người nghệ sĩ có thể chối bỏ cả mình, để được cuốn theo sự cám dỗ thiêng liêng của cái đẹp bí ẩn trong nghệ thuật.

    Đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Đào Trọng Khánh

Share:         LinkHay.com