E-mail        Print        Font-size  
  • Jean Dunand – Thợ Việt và sơn mài Art Decor: Một hướng nhìn về lịch sử hội họa sơn mài Việt Nam



    Xưởng làm sơn mài của Jean Dunand (1877-1942) ở 17 Rue Hallé, quận 14, Paris, nay đã thành một di tích của trào lưu Art Decor của thế giới Âu Mỹ. Điểm đặc biệt của xưởng là ngay từ 1920, Dunand đã tuyển nhiều thợ sơn từ Việt Nam sang làm cho ông, với hai lý do chính là họ không bị sơn ăn và đã có những kỹ năng cơ bản về nghề sơn. Với đội thợ đặc tuyển này, Dunand đã cho xuất xưởng hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật sơn mài, theo đơn đặt hàng của tầng lớp thượng lưu ở cả hai bờ Đại Tây Dương, trong đó có những tranh sơn mài cỡ lớn trang trí con tàu Normandie huyền thoại của nước Pháp.

    Hãy xem một vài tác phẩm của Dunand - thích nhất với ý nghĩ rằng những người thợ sơn Việt Nam đã giúp ông làm ra chúng (xem ảnh từ 1 đến 5).


    1. Chân dung nữ Bá tước Raoul de Saint Cyr, 1925, chất liệu sơn ta và vỏ trứng trên lõi gỗ, cỡ 60,3x89,2x1,59cm; do gia đình Bá tước tặng cho Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan (MET) - New York, năm 1988. Ảnh của MET).

     


    2. Bên bờ nước, 1927, chất liệu sơn ta và vàng quì, sưu tập của J.J. Dutko. Ảnh trên tạp chí L'Art vivant số tháng 12/1930.




    3. Bình phong đôi, 1925, thực hiện theo thiết kế của Paul Jouve, đã triển lãm tại Salon des Artistes Décorateurs năm 1928 - Ảnh trong bài "Dunand Screens in the Modern French Spirit", tạp chí Arts and Decoration, số tháng 5/1928, trang 28).




    4. Chi tiết cá trong một bình phong sơn mài, 1928, làm cho gia đình Templeton Crocker ở San Francisco, Mỹ - Ảnh của Cristie trong giới thiệu lô sơn mài Art Decor của gia đình này cho cuộc đấu giá hồi 2011.




    5. Hộp cá vàng, 1925, sơn mài lõi gỗ, cẩn bạc, bản lề chìm, cao 11,5cm, rộng 28cm, sâu 16,2cm - Ảnh trên Pinterest.

    Điều cần phải khẳng định ngay là mặc dù xưởng của Dunand dùng toàn thợ Việt Nam, nhưng nghệ thuật sơn mài mà ông học được lại là từ Seizo Sugawara - một bậc thầy Nhật Bản.

    Jean Dunand ra đời ngày 20-05-1877 tại Lancy, Thụy Sỹ; tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Công nghiệp Geneva năm 1896, với hai bằng Điêu khắc và Thiết kế. Được học bổng học tiếp, ông sang Paris học nghề điêu khắc kim loại trong xưởng của Jean Dampt, một điêu khắc gia Art Nouveau lừng danh. Đến 1903, ông mở xưởng riêng đầu tiên tại cửa ô Orléans với tư cách một dinandier, nhà làm đồ kim loại trang trí, và cũng có triễn lãm đầu tiên tại Hội Mỹ thuật Quốc gia Pháp (Société Nationale des Beaux-Arts). Nhiều khách hàng thuê ông phục chế các đồ kim loại của Nhật, khiến ông để ý đến lớp phủ chống gỉ và trang trí rất đặc biệt của chúng. Tất cả những “chuyên gia” có tiếng ở Paris về đồ Nhật lúc bấy giờ đều không giải đáp thỏa đáng được các câu hỏi của ông về cái gọi là “urushi” (sơn ta) phủ trên các đồ kim loại kia.

    Còn Seizo Sugawara thì sinh trưởng tại Johoji, một làng “urushi” cổ truyền tại miền Bắc nước Nhật. Ông sang Paris năm 1900 trông coi xây dựng phần “urushi” trong triển lãm Nhật Bản tại đấu xảo quốc tế, sau đó ở lại, mở xưởng làm đồ sơn sinh sống tại Paris, và rất mong học được các bí mật dinandier nhà nghề để phát triển đồ sơn lõi kim loại của mình.

    Hai nhân vật này đã gặp nhau năm 1912, do sự giới thiệu của Eileen Gray (sẽ phải có một bài riêng về nữ kiến trúc sư Art Decor rất đặc biệt này), là người đã thuyết phục được Sugawara truyền bí quyết urushi cho mình. Dunand và Sugawara đồng ý trao đổi bí quyết nghề nghiệp. May mắn cho hậu thế: Dunand đã ghi chép tỉ mỷ 13 bài học với Sugawara, ghi chép 30 công đoạn từ lúc làm vóc đến kỹ thuật mài từng lớp sơn để có được mặt tranh đặc biệt của chất liệu này, giữ lại cả những mẫu vóc sơn mài làm trong những bài học ấy. Trong ghi chép của Dunand có đoạn: “...Mỗi lớp sơn phủ đều phải để chín, sau đó mài nhẵn bằng đá, than củi, bột đất sét mịn hoặc bột sừng hươu, có hoặc không kèm với một chất bôi trơn như nước hoặc dầu...” Chắc hẳn ông thầy Sugawara đã nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của thủ tục mài sơn này, nên Dunand mới viết thêm rằng: “Những người làm tranh sơn mà không thành thạo công đoạn mài bóng bằng than củi thì bị gọi là ‘lạc đà’, vì lạc đà có hai bướu lưng, nhấp nhô như mặt sơn không được mài đúng cách.”

    Chúng tôi cứ tự hỏi tại sao chúng ta không có một tí bút tích gì của Section de Lacque trong trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương?

    Một điều rất đáng lưu ý nữa, ngay cả Eileen Grey và Jean Dunand cũng không phải là người đầu tiên học được các kỹ thuật urushi cổ truyền.

    Cuối thế kỷ 19, triều đình nước Phổ đã cử Justus Rein, còn chính phủ Anh thì cử John James Quin, sang Nhật tìm hiểu nghệ thuật urushi. Năm 1874, Rein trình bày 100 mẫu vóc kèm theo bản báo cáo của mình tại Bảo tàng Nghệ thuật Konigliche ở Berlin. Còn Quin thì năm 1882 đã nộp báo cáo cho Vườn Thượng Uyển (Royal Botanic Gardens) hoàng gia tại Kew, bao gồm 170 hiện vật, từ nguyên vật liệu, công cụ, mẫu vóc, và mẫu vật trình bày tất cả các công đoạn làm sơn cùng nhiều kỹ thuật trang trí khác nhau, cũng như các thành phẩm hoàn chỉnh. Cả hai báo cáo này đều mô tả chi tiết quá trình nuôi trồng cây sơn Rhus vernicifera, cách lấy nhựa, cách lọc nhựa, cách phủ sơn và các kỹ thuật trang trí.

    Cũng trong thời gian ấy, một nhà vật lý và thực vật học người Pháp là Benamin Balansa (1825-1891) đã có hai chuyến nghiên cứu điền dã tại Đông Dương (1885-89 và 1890-91) và xác định rằng Rhus vernicifera là cây sơn mọc tự nhiên và cũng được nuôi trồng lấy nhựa ở Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên. Còn cây sơn mọc tự nhiên ở Việt Nam và Đài Loan là loài Rhus succedanea. Sang thế kỷ 20, Pierre Huard và Maurice Durand, trong chương trình nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, còn ghi chép chi tiết về nghề làm đồ sơn ở Việt Nam, được xác định là do Trần Tương Công, sứ thần của triều đình Lê Nhân Tông (1443-1460), học được ở tỉnh Hồ Nam bên Trung Quốc và đem về phổ biến ở đất kinh kỳ, do đó mà được coi là tổ nghề sơn ở Việt Nam.

    Quay lại với Dunand - không thể không liên hệ tới Josepth Inguimberty và nghệ thuật tranh sơn mài và sơn khắc của ta. Từ 1920 đến 1925, trong lúc Dunand đã thuê hàng chục thợ sơn Việt sang làm ở xưởng tại 17 Rue Hallé, và các tác phẩm của ông đã rất nổi tiếng và có giá trong thị trường nghệ thuật trang trí Âu Mỹ, thì Inguimberty đang là sinh viên Trường Quốc gia Nghệ thuật Trang trí tại Paris. Đã học trang trí ở trường ấy, vào lúc ấy, chắc hẳn chàng sinh viên Inguimberty không thể không biết đến xưởng sơn của Dunand. Theo sách “Joseph Inguimberty, 1896-1971” của Giulia Pentcheff, thì năm 1925, khi Nam Sơn theo học một loạt chương trình cấp tốc tại Trường Quốc gia Nghệ thuật Trang Trí tại Paris, Inguimberty đã gặp ông và Victor Tardieu tại trường, dẫn đến hợp đồng sang dạy tại Hà Nội. Pentcheff suy đoán rằng Inguimberty được ông thầy nổi tiếng là Eugene Morand giới thiệu với Tardieu. Nhưng chúng tôi thì đoán rằng Dunand mới là người giới thiệu Inguimberty với Tardieu, rất có thể là người đã giúp Dunand tuyển thợ sơn ở Hà Nội.Trong cuốn Nghệ thuật xứ An Nam, tác giả Henri Gourdon, Giám đốc Nha Học chính Đông Dương từ 1918, cũng nhắc đến nhóm thợ sơn mài Việt Nam ở Paris từ thời ấy, và đến Victor Tardieu, người được chính phủ Pháp cử sang Đông Dương để thành lập trường mỹ thuật theo chính sách giáo dục thuộc địa. Chúng tôi đồ rằng Dunand không thể không quen biết Tardieu và Gourdon.


    Ảnh chụp năm 1935, trong lưu trữ gia đình Dunand, in trong bài Jean Dunand - A French Art Décor Artist Working wtith Asian Lacquer, của tác giả Mechthild Baumeister)

    Và chắc hẳn là Inguimberty đã biết đến nghệ thuật sơn mài từ Dunand, đã gặp đội thợ Việt Nam của ông, và đã dự định phải có môn này trong chương trình dạy trang trí của mình ở MTĐD, nên ngay khi mới sang Hà Nội chưa được 2 năm, còn chưa có biên chế, ông đã đề nghị và được đồng ý cho môn sơn mài vào chương trình của mình năm 1927. Mãi 7 năm sau, khi đã có biên chế chính thức và đã lên được bậc 2 ngạch giáo viên, Inguimberty mới mở được xưởng làm sơn mài trong trường cho môn trang trí của mình. Chúng tôi tin rằng với một hệ thống quan liêu như của Pháp, chính phủ Pháp chỉ đồng ý việc MTĐD dạy sơn mài trang trí vì có Dunand và sự nghiệp urushi lẫy lừng thế giới của ông.

    Vâng, Inguimberty xây dựng sự nghiệp dạy vẽ của ông ở Đông Dương dựa vào sơn ta, nhưng ông bảo học trò rằng chất liệu ấy công phu quá, ông không thích dùng, và không bao giờ thử dùng. Còn Dunand thì nhờ tình yêu với chất liệu bí ẩn và rất công phu ấy mà trở thành ông hoàng sơn mài của cả trào lưu Art Decor cho đến bây giờ vẫn không thể lạc hậu.

    Chấm hết bài này, bạn đọc hãy xem bức ảnh chụp Jean Dunand cầm đèn khò phun lửa vào một cái bàn do ông chế tạo bằng vật liệu hỗn hợp có cả sơn ta, chứng minh rằng sơn ta có thể tạo được cả vật liệu điêu khắc và trang trí không thể đốt cháy.

    Hà Nội, 24 May 2017

    Trịnh Lữ

    Tài liệu tham khảo chính:

    1) Mechthild Baumeister, Jean Dunand – A French Art Décor Artist Working with Asian Lacquer; 2002 Wag Postprint, Miami, Florida

    2) Alastair Duncan, Art Deco Furniture – The French Designers, Thames and Hudson Ltd, London, 1984

    3) Giulia Pentcheff, Joseph Inguimberty 1896-1971 – Premier catalogue de l’oeuvre peint, Groupe Horizon, 2012

    4) Pierre Huard & Maurice Durand, Connaissance du Viet Nam, Paris Imprimerie Nationale – École Francaise d’Extreme-Orient, Hanoi, 1954

    5) Henri Gourdon, L’art de l’Annam – bản tiếng Việt Nghệ thuật xứ An Nam, Nhã Nam & NXB Thế giới, Hà Nội, 2017

    6) Metropolitan Museum of Art website

    7) Christie’s website

Share:         LinkHay.com