E-mail        Print        Font-size  
  • Quan trọng nhất trong phê bình là sự trung thực

    Jerry Saltz, Roberta Smith and host Randy Cohen for the taping of Person, Place, or Thing Podcast at NYAA, NY, 2014




    Một chiều xuân, Roberta Smith - nữ phê bình gia chủ chốt của tờ New York Times - ghé chơi nhà cố vấn biên tập của tờ Brooklyn Rail, học giả Irving Sandler. Dưới đây là trích đoạn cuộc hàn huyên thú vị về công việc cũng như cuộc sống giữa hai tay bút lẫy lừng của văn đàn nghệ thuật Hoa Kỳ.

    Irving Sandler: Theo bà, độc giả của bà mong muốn ở bà điều gì?

    Roberta Smith: Tôi nghĩ cơ bản nhất là sự trung thực, và bạn phát triển từ đó. Là nhà phê bình, ít nhất điều tôi có thể làm là nói: “Tôi đã đến, và tôi đã thấy. Tôi đã nhận ra nó thế nào và vì sao tôi thích nó. Nếu bạn đọc bài viết này, bạn có thể cũng thích nó như tôi.” Trong thành phố [New York] vĩ đại này - nơi tất cả các loại hình nghệ thuật liên tục xuất hiện, mọi người đều muốn được giúp đỡ chút ít để lọc ra mọi thứ. Tôi nghĩ công việc cơ bản của tôi trong vai trò một nhà phê bình là lôi được mọi người ra khỏi nhà, làm cho họ quan tâm, nhiệt tình, có được hứng thú, hoặc bị chọc tức đủ để muốn đi xem ngay những gì tôi đang nói tới.

    Sandler: Là một trong những độc giả của bà, tôi thấy bài viết của bà rất hữu ích: Bà chỉ cho tôi nơi cần đến, và khi tôi đến nơi, tất cả những tác phẩm trưng bày hóa ra thú vị thật, dù có giống như bà đã tả trong bài viết hay không.

    Smith: Quan sát nghệ thuật là một hoạt động có lợi cho bản thân. Tôi dành nhiều thời gian làm việc đó, suy nghĩ về điều đó. Một trong những chức năng của tôi là giúp mọi người hiểu hơn những quyền năng đặc biệt của nghệ thuật. Con mắt luôn thu nhận vô cùng nhiều lượng thông tin và bạn liên tục phải đánh giá những gì nhìn thấy. Cái khó là bạn phải đủ tự tin để lắng nghe chính bản thân trong khi tích lũy đủ kinh nghiệm để hiểu rõ hơn những điều đang vang lên trong bạn. Cởi mở chính là chìa khóa, cùng với sự công bằng nhất định trong phản ứng của riêng bạn. Đôi khi, bạn sẽ ngạc nhiên và kinh hoàng với một số điều bạn thích, nhưng còn cách nào nữa đâu.

    Sandler: Trong những bài phê bình của bà, điều gì là quan trọng về mặt văn phong?

    Smith: Những bài phê bình phải là những bài đọc lên thấy thú vị, và chí ít, đôi khi cũng nên thú vị để viết. Tôi muốn phong cách của tôi là phong cách đàm thoại, là giọng điệu đời thường, chỉ có điều hơi hài hước hơn, cô đúc hơn và khiêu khích hơn.

    Sandler: … Theo tôi biết, người tạo ra thị hiếu trong thế giới nghệ thuật tiền phong của những năm 1950 chủ yếu là các nghệ sĩ; vào thập niên 1960, vai trò này chuyển sang các nhà phê bình, đặc biệt là những người viết cho tờ Artforum; còn về sau, trong những thập kỷ tiếp theo, người quyết định khẩu vị là các giám tuyển, rồi đến các doanh nhân và các nhà sưu tập!



     
    Chân dung Roberta Smith (trái). Bút chì trên giấy của Phong Bùi. ©Brooklyn Rail
    Chân dung Irving Sandler (phải) .Bút chì trên giấy của Phong Bùi. ©Brooklyn Rail

    Smith: Tôi tin vào sở thích cá nhân, mà tạo-ra-thị-hiếu là một điều tưởng tượng. Đó chỉ là cách sắp xếp lại những thứ mà theo thời gian đang bị sa sút. Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng đã úa tàn trong nhiều thập kỷ. Bây giờ chúng ta đánh giá đúng đắn hơn với Myron Stout - người hầu như không hề được biết tới trong những năm 1950 vì không phù hợp với hệ thống đương thời. Nghệ thuật không thực sự đi theo bất kỳ một đường hướng nào. Donald Judd nói rằng nghệ thuật không phải là khoa học, dù cho ông rất hãi hùng khi nó cứ chạy theo hướng khác, xa rời ông. Còn về điêu khắc của Donald Judd, khi ông được công chúng quan tâm quá mức rồi thì đến ngay cả tượng của Baselitz thậm chí cũng chẳng còn chỗ trong tâm trí họ nữa.

    Sandler: Greenberg cũng có ý tưởng như vậy.

    Smith: Ông ấy chắc chắn đã có ý tưởng đó. Dù sao, nếu thị hiếu được tạo ra, hầu như nó luôn luôn được tạo ra bởi các nghệ sĩ, bởi mọi thứ dẫu có thay đổi thế nào cũng chẳng sao, nghệ sĩ vẫn gợi ý cho các nhà buôn nghệ phẩm biết cần bày cho ai xem gì, mua gì.

    Sandler: Còn với các nhà phê bình thì sao?

    Smith: Mọi người thích nói rằng phê bình gia là những kẻ có quyền lực, họ có thể xây hay phá, nhưng thực ra điều đó không hẳn như vậy. Điều đó không giống như việc chúng ta phát hiện ra Bruce Springsteen ở đây, nghệ sĩ không đến từ “hư không”, rất nhiều người biết tới họ khi họ xuất hiện. Mọi người đều có phiếu bầu, họ chỉ bỏ phiếu theo những cách khác nhau mà thôi. Tôi bỏ phiếu bằng cách viết. Những người khác bỏ phiếu bằng cách trưng bày tác phẩm hay mua chúng, hoặc đi thăm triển lãm và nói với người khác về những thứ họ đã thấy, lúc nào họ cũng có quyền bỏ phiếu. Chính họ cũng đang lựa chọn và thay đổi lá phiếu của họ. Bất cứ ai trong thế giới nghệ thuật cũng đều không ngừng làm phê bình, đưa ra những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến những sự việc khác. Cho dù quyền lực của bất kỳ ai trong chúng ta, tất cả chúng ta đều luôn có khả năng suy xét về người khác. Về cơ bản, bạn được trao quyền. Bạn có một thứ trách nhiệm đối với nó, và nếu bạn lạm dụng trách nhiệm đó, bạn sẽ đánh mất quyền năng. [Clement] Greenberg là một ví dụ. Tôi thích nghĩ rằng quyền lực là một thứ rất động. Cứ mỗi Thứ Sáu đến (ngày bài phê bình được đăng - ND) thì quyền lực của tôi cũng đến, rồi đi [qua ngày hôm sau]. Tôi gây ấn tượng và bất ngờ cho một số người, và tôi cũng làm thất vọng những người khác. 


    Irving Sandler và Lois Dodd tại Tanager Gallery, 1956
    Irving Sandler and Lois Dodd in Tanager Gallery, 1956 / Unidentified photographer. Joellen Bard’s, Ruth Fortel’s, and Helen Thomas’ exhibition records of “Tenth Street Days: the Co-ops of the 50s”, Archives of American Art, Smithsonian Institution

    Sandler: Mới gần đây, tôi quan tâm tới một vấn đề có liên quan tới giai đoạn hiện đại, một trong số những ý tưởng trung tâm [của nó], nếu không nói là ý tưởng trung tâm, là “làm nó mới”. Tuy nhiên, trong cái gọi là thời kỳ hậu hiện đại, tình hình trở nên cực kỳ gay go, đến mức nhiều người trong chúng ta thực sự nghĩ rằng nó thật quá đáng, thật không thể chịu đựng nổi. Bà xoay sở thế nào với những thay đổi này về mặt ý tưởng của tính độc sáng - một giá trị cơ bản trong nghệ thuật?

    Smith: Mặc dù ý tưởng về tính độc sáng của tác phẩm nghệ thuật đã bị băm nát và nghiền vụn bởi những nghệ sĩ được mệnh danh là hậu-hiện đại, họ vẫn định ​​sẽ cứ làm như thế - theo đường lối sáng tạo độc đáo. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng sự chân thực và tính toàn vẹn là các giá trị cơ bản của nghệ thuật, và kết quả là bạn sẽ đạt được cái gì đó có giá trị đúng như bạn có thể làm ra, để nó phản ánh những ý tưởng và sở thích của bạn, và niềm đam mê của bạn càng rõ càng tốt. Đó là một nhiệm vụ nặng nề, một đòi hỏi rất cao, mà đó là vấn đề năng động nhiều hơn là tài năng. Nếu một nghệ sĩ có thể làm được điều này - trong bất cứ chất liệu/hoàn cảnh nào – anh hoặc chị ấy có thể đạt được một mức độ sáng tạo độc đáo nào đó. Còn điều đó có làm thay đổi tiến trình lịch sử hay không lại là việc khác. Mặt khác, tất cả chúng ta đều tìm kiếm những thứ mình chưa từng thấy trước đây. Bạn không bao giờ muốn nghe những ban nhạc khác hát lại các bài ca bất hủ của The Beatles trong những ngày tháng còn lại của đời mình. Bạn biết rằng Arrested Development (loạt phim truyền hình nhiều tập –ND) là thứ gì đó rất khác so với bất kỳ bộ phim sitcom nào trước đó.

    Sandler: Đúng vậy. Nếu xem lại những bài viết phê bình trước đây của mình, bà có bao giờ thay đổi ý kiến về một nghệ sĩ không?

    Smith: Ồ, tôi không ngoái lại. [cười]

    Sandler: Vì vậy, bà đã không bật dậy vào lúc nửa đêm và hét toáng lên: “Ôi trời, mình viết sai bét rồi”, đúng không?

    Smith: Không thường xuyên. Điều giữ cho tôi luôn tỉnh táo là tôi biết mình sắp khiến cho ai đó không hài lòng. Khi bạn đang viết, bạn phải biết tạm quên đi cái ý nghĩ về những hậu quả của bài viết. Khi bạn thực hiện xong, điều đó mới bắt đầu ngấm. Những gì tôi nói trước đây về việc phải nghĩ tới độc giả là đúng, nhưng bạn cũng phải viết cho chính mình, bạn thực sự cần phải đào xới và thu nhận những gì bạn cảm nhận về tác phẩm. Ngoài ra, phê bình không phải là quy trình khen chê đơn giản. Bạn phải viết cái gì thì xứng là “tác phẩm” và cái gì chưa đạt tới tầm “tác phẩm”. Đó thường là vấn đề đẳng cấp.



    New York Times art critic Roberta Smith (bên phải) đang đi lại tại triển lãm Karel Funk mở cửa ở
    303 Gallery, tháng 4/2010.


    Sandler
    : … bà nghĩ gì về cái được coi là ‘phong cách thời thượng’, vào lúc này?

    Smith: Ồ. Có lẽ có vài nhân vật thời thượng đấy, hầu hết họ đều dính đến mấy kiểu tiếp đoạt, kể cả với hội họa trừu tượng, hoặc những dạng lắp ghép các đồ linh tinh nhặt nhạnh được. Tôi nghĩ cái quan niệm cho rằng tất cả mọi thứ - dù là chất liệu hay cốt chuyện – cần phải được tìm thấy, không phải được chế tác, là hơi bị ám ảnh. Một số quan niệm khác lại là sự sùng kính đối với [nghệ thuật] những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Dường như có thứ nghệ thuật ý niệm nào đó của những năm đầu 1970 đã được xem như liều thuốc giải độc cho sự thối nát và thương mại hóa [trong nghệ thuật]. Tôi muốn dùng dấu ngoặc kép đối với thuật ngữ “tạo ra đối tượng” (“object-making”). Tôi thấy đó là vấn đề nan giải, hoặc cũng có thể là một cách trốn tránh thời đại của mình. Ngoài ra còn có sự-sống-lại-vì-lợi-ích-của-sự-sống-lại: sự tái khám phá của các nghệ sĩ bị lãng quên chỉ vì họ đã bị bỏ quên. Trong số họ cũng có nhiều người chẳng thú vị gì, nhưng thực tế việc ‘bị lãng quên’ đã khiến họ trở thành những vị anh hùng trong mắt một số người.

    Sandler: Sự chuyển dịch của đối tượng/mục đích, sự bùng nổ gần đây của các phương tiện mới, chất liệu mới cùng với công nghệ mới có ảnh hưởng tới công việc phê bình của bà không?

    Smith: Không hẳn. Tôi đón đợi một số dạng trải nghiệm thị giác vô ngôn. Điều đó có thể xảy ra dưới bất kỳ loại hình nghệ thuật nào, bất kỳ thời gian nào, bất kỳ phương tiện hay chất liệu nào. Nghệ thuật có thể hàm chứa tất, cả ngôn ngữ, cả âm thanh hoặc bất kỳ thứ gì, nhưng tôi muốn cách tôi nhìn sự vật - những điều mình nhận thức, những điều mình suy nghĩ về hiện thực - phải sáng rõ, minh bạch, phải mãnh liệt, dữ dội.



    Donald Judd in 1982, with his work ‘Untitled’ (1975)
    © Judd Foundation


    Myron Stout, Untitled, 1950, tại Joan Washburn Gallery, New York City; ABMB


    Sandler: Bà cảm thấy thoải mái nhất với những chất liệu nào, môi trường nào?

    Smith: Tôi có lẽ hơi thiên vị đối với các tác phẩm hai chiều, trong đó, ngoài tranh, có cả ký họa, tranh in, ảnh chụp, các sản phẩm làm từ vải dệt, v.v…, thậm chí cả những mảnh gốm với bất kỳ kích cỡ nào. Tôi nghĩ rằng bề mặt hai chiều đúng là một phát minh thực sự tuyệt vời [cười] và chúng ta đã làm được rất nhiều điều nhờ khả năng diễn tả hình ảnh của nó. Song cái tôi thích thực sự lại là màu sắc, màu sắc của mọi thứ, mọi chất liệu.

    Sandler: Nghệ sĩ của thế hệ chúng tôi trong những năm 1950 tin rằng hình thứcnội dung không thể tách rời, đối tượng mới là quan trọng, còn chủ đề chỉ là thứ yếu. Trong những năm 1980, thế hệ trẻ đã coi vấn đề chủ đề có tầm quan trọng lớn hơn nhiều.

    Smith: Vâng. Tôi nghĩ rằng một trong những tác dụng phụ kém thú vị nhất của Xu hướng Ý niệm (conceptualism) là đã gây ra một vài lý do để người ta có thể sử dụng một lượng ngôn từ hơi bị nhiều khi nói về chủ đề (subject matter). Thế giới kỹ thuật số cũng giúp loại bỏ quan niệm cũ hơn, đầy đủ hơn về nội dung. Ngày nay, nội dung nghĩa là câu chuyện, là chủ đề, là ngôn ngữ, là âm mưu, là chính trị. Trong thực tế, có khi nó chẳng là cái gì giống như những điều nói trên, mặc dù tôi có lẽ nên cúi đầu mà chấp nhận cái thông lệ này. Một lần nữa, hãy lấy Judd làm ví dụ: một số người thấy tác phẩm của ông dường như thiếu nội dung. Cái nó thiếu chính là chủ đề. Có lẽ ý tưởng của Greenberg đã cắt ngang tất cả những gì dài giòng văn tự: ông ấy bảo ‘nội dung là chất lượng’. Nhưng tôi không đồng ý. Nội dung của hết thảy mọi nghệ thuật chính là tính tầm phào (crappiness), phi lý của nó, sự lười biếng và từ chối đạt tới ngay cả tính độc đáo của nó, thường là bằng cách tập trung vào một số kiểu thành kính chính trị và vấn đề chủ đề.





    GEORG BASELITZ tại SEINEM ATELIER ở MÜNCHEN, 2014 | FOTO: JORK WEISMANN



    Georg Baselitz, nhóm tượng “Chị em”, 2012. Galerie Thaddaeus Ropac, Paris.


    Sandler: Nhưng phải chăng chất lượng không phải chỉ là vấn đề ta có thích hay không thích những cái gì đó. Bà có cho rằng còn có điều gì đó lớn hơn thế, lớn hơn cái ý tưởng về chất lượng không?

    Smith: Tôi nghĩ đó là quan điểm của Greenberg, nếu xét một cách vô thức. Nói cách khác, nếu tôi thích cái này, thì nghĩa là nó có chất lượng, và do đó, có nội dung, và những cái khác cũng thế. Nếu tôi không thích, nó không có chất lượng và cũng chẳng có nội dung. Vâng, tôi nghĩ rằng chắc chắn ông đã nói đúng – ý tưởng của mọi người về chất lượng là những gì họ thích, thậm chí họ nghĩ rằng họ thích nó bởi vì nó củng cố thêm một số lý thuyết và khiến họ đúng đắn hơn so với phần còn lại chúng ta. Ngày nay chúng ta có nhiều phẩm chất. Mỗi người chúng ta đều đang lập luận bênh vực phiên bản này hoặc phiên bản kia, làm bất cứ điều gì chúng ta có thể, dù ít hay nhiều, để mọi người đồng ý. Nhưng thực sự là ý tưởng về chất lượng trong nghệ thuật không phải là một cái gì đó mà bạn có thể gác lại. Có còn nơi nào khác trong cuộc đời này để chúng ta gác lại ý tưởng này không, để chúng ta mặc cả về chất lượng hay không? Chúng ta luôn tìm kiếm thứ tốt nhất: người bạn đời tốt nhất, nơi sinh sống tốt nhất, việc làm tốt nhất. Tất cả những lựa chọn đó đều là những quyết định có lợi về chất lượng. Vì vậy, tại sao nghệ thuật lại phải khác?

    Sandler: Lý thuyết nghệ thuật có giúp bà nhiều trong công việc không? Và bà nghĩ gì về những bài phê bình hàn lâm được viết bởi các nhà phê bình trẻ ngày càng được đào tạo nhiều hơn từ các lò đào tạo lý thuyết nghệ thuật và học viện?

    Smith: Tôi đã đi học trước khi lý thuyết trở thành thời thượng. Tôi đã cố gắng để không bị lạc hậu nhiều lắm với các lý thuyết nghệ thuật, nhưng thú thực tôi sử dụng lý thuyết không nhiều. Nó chật hẹp lắm, và được viết bằng một ngôn ngữ chuyên biệt, hiếm khi giải thích được những gì nghệ thuật làm ra một cách trực giác. Tác phẩm nghệ thuật truyền thông tin qua mắt đến não. Lý thuyết có thể giải thích được bối cảnh và bối cảnh là thú vị, nhưng chỉ một chiều. Mặt khác, tôi biết có một hiệu ứng gọi là hiệu ứng nhỏ giọt (trickle-down effect), ta không thể chối bỏ nó hoàn toàn bởi vì nó tồn tại trong không trung, và nó cũng có trong rất nhiều nghệ thuật. Để đưa ra quan điểm khác biệt, tôi không nghĩ rằng phê bình là chuyên ngành hàn lâm có thể dạy và học. Một số người có thể hấp thụ tất cả các loại “mẹo mực” và biến chúng thành của riêng. Những người khác lại rất lúng túng với chúng. Dù bằng cách nào, bạn cũng phải tìm được giọng điệu của riêng mình, và bạn phải làm việc chủ yếu bằng các phản ứng, các cảm nhận của riêng mình. Tôi đoán có thứ phê bình hàn lâm với rất nhiều chú thích, từ nào cũng chú thích, cái thứ đó dường như được viết bằng một ngôn ngữ riêng cho một đối tượng bạn đọc đặc thù. Đó không phải là thứ hữu ích cho hầu hết mọi người.


    Clement Greenberg, 1964, Phyllis Herfield. Oil on wood
    Collection: The National Portrait Gallery in Washington, D. C.

    Sandler: Bà phản ứng ra sao với sự toàn cầu hóa của nghệ thuật?

    Smith: Không ai có thể biết tuốt về nghệ thuật đương đại của thế giới ngày hôm nay. Các nhà phê bình viết bài định kỳ hàng tuần - những người ít vi hành và không đi du lịch nhiều lắm - rất có thể hiểu biết kém hơn những người khác. Nhưng nếu bạn đang sinh sống ở New York, bạn sẽ có cách nhìn nhận khác hơn một chút. Khi sự toàn cầu hóa nghệ thuật xuất hiện tại đây, tôi quan sát nó như quan sát mọi thứ khác: nó cũng độc lập, hoặc quá phái sinh, hoặc quá phụ thuộc vào những mô hình quen thuộc. Thường thì tôi cảm thấy rằng chúng ta cần phải tảng lờ rằng nó không phải như thế.

    Sandler: Quan niệm về phê bình nghệ thuật của bà có thay đổi trong những năm qua?

    Smith: Tôi nghĩ rằng mình đã ngày càng tin nhiều hơn vào khả năng tiếp cận. Tôi thường bị gọi một cách “xúc phạm” là nhà báo, mặc dù tôi thích từ “phê bình gia đang hành nghề” nhiều hơn – nhưng điều đó cũng không thành vấn đề. Có lẽ những bài phê bình lớn nhất luôn luôn là dạng bài viết cho tạp chí – được viết trong tình trạng chạy đua, được tiêu thụ bởi những người đang chạy đua, và viết về hiện tại. Dù sao chăng nữa, dù có ý tưởng hay không, tôi vẫn luôn nhìn thẳng vào công việc của mình và biết rằng nó còn có thể tốt hơn. Không có sự tưởng thưởng nào, cổ vũ nào, động cơ nào lớn hơn thế./.


     

    (Roberta Smith trò chuyện với Irving Sandler)

    Andrea Tran lược dịch

    (Nguồn: Brooklyn Rail, 04/2009)

    +++

    Ghi chú:

    Irving Sandler (sinh năm 1925), nhà phê bình nghệ thuật danh tiếng, curator, học giả Hoa Kỳ, một cây bút kỳ cựu từng có rất nhiều những bài viết quan trọng về thời kỳ đầu của nghệ thuật Mỹ, đặc biệt là về trường phái Biểu hiện Trừu tượng của những năm 1950. Ông là tác giả của nhiều sách viết về nghệ thuật như: Thành tựu của Hội họa Mỹ: Lịch sử về trường phái Biểu hiện Trừu tượng (1970), Trường phái New York: Các họa sĩ và nhà điêu khắc những năm Năm mươi (1978), Nghệ thuật Mỹ những năm 1960 (1988), hay Nghệ thuật của kỷ nguyên Hậu hiện đại: Từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1990 (1996). Sandler tự nhận là ‘quan sát viên khách quan của thời đại’ - đối lập với những phê bình gia chủ trương luận chiến như Clement Greenberg hay Harold Rosenberg.

    Roberta Smith (sinh năm 1947): nhà phê bình nghệ thuật kiệt xuất, giảng viên và chuyên gia về nghệ thuật đương đại. Từng làm thư ký tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA), New York, trước khi viết những bài điểm tin cho Artforum, Art in America, The Village Voice và các ấn phẩm khác. Bà bắt đầu viết chuyên cho tờ The New York Times từ năm 1986. Năm 2003, Hiệp hội Cao đẳng Nghệ thuật đã trao cho bà giải thưởng Frank Jewett Mather dành cho Phê bình Nghệ thuật. Không chỉ viết về nghệ thuật đương đại, Smith quan tâm tới toàn bộ nghệ thuật tạo hình nói chung, trong đó có cả nghệ thuật trang trí, thiết kế, kiến trúc, nghệ thuật đại chúng và nghệ thuật của những người không chuyên. Rất nhiều năm, bà lọt vào danh sách “100 nhân vật quyền lực nhất trong nghệ thuật đương đại” (“Power 100”) của ArtReview. Bà được bổ nhiệm cương vị đồng Trưởng ban Phê bình Nghệ thuật của tờ NYT kể từ tháng 9/2011.



     

Share:         LinkHay.com