E-mail        Print        Font-size  
  • Đấu giá Vị nghệ thuật - lần thứ nhì






    - Phạm vi: Hội họa Việt Nam thế kỷ XX & đương đại

    - Triển lãm: Từ ngày 20 đến 27/5/2017

    - Đấu giá: Từ lúc 14h ngày 27/5/2017

    - Địa điểm: Hôtel des Arts Saigon

    - Địa chỉ: 76-78 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP.HCM

    - Đơn vị tổ chức: Nhà đấu giá Lý Thị - Lythi Auction

    • Phiên đấu dành một phút tưởng nhớ đến được tổ chức đến 63 năm ngày mất của Tô Ngọc Vân (17/6/1954), và 10 năm ngày mất của Lưu Công Nhân (21/7/2007)

    Nếu phiên đấu giá Vị nghệ thuật lần thứ nhất của nhà đấu giá Lý Thị (Lythi Auction) diễn ra hồi 17/12/2016 tại TP.HCM đã mở rộng phạm vi ra các tác giả bên ngoài Việt Nam. Thì lần thứ hai này, Lythi Auction lại chủ đích chọn lọc những tác phẩm nội địa, gói gọn trong 18 lô (Lot) hàng, đa dạng về phong cách nghệ thuật. Đây là những tên tuổi: hoặc đã thành huyền thoại của nền nghệ thuật hiện đại Việt Nam, hoặc thời danh, hoặc đang còn là nhân tố bí ẩn, cần khám phá.

    Phiên đấu này chào đón những tiếp nối thế hệ nghệ thuật và nhịp cầu cha con rất thú vị. Đầu tiên đó là họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1954) và họa sĩ Tô Ngọc Thành (sinh 1940). Tô Ngọc Vân đã quá gần gũi với mọi người, ở đây xin không đề cập tiếp tục. Ông Thành là người con duy nhất của Tô Ngọc Vân nối nghiệp cha; và luôn ghi nhớ lời cha dặn: “Sáng tác là lẽ sống, ngày nào không vẽ là ngày ấy bỏ nghề, là họa sĩ mà không vẽ thì chắc chắn là họa sĩ giấy”.

    Tình cha con thứ hai là họa sĩ Hoàng Lập Ngôn (1910-2006) và họa sĩ Hoàng Hồng Cẩm (1959-2011). Hoàng Lập Ngôn là sinh viên khóa 9 của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông có sức làm việc bền bỉ, liên tục, kĩ lưỡng. Theo thi sĩ Hoàng Cầm: “Tuy anh vẽ không nhiều, nhưng chỉ cần mấy chục bức tranh chân dung, một số văn nghệ sĩ của anh cũng tạm đủ góp một phần không nhỏ vào tài sản của Hội Mỹ thuật Việt Nam, và dĩ nhiên, của cả dân tộc Việt Nam”. Hoàng Hồng Cẩm thì gần như ngược lại cha mình, tuổi đời ngắn, ngao du cũng ít hơn, thậm chí không có ý định thành họa sĩ, nhưng lại rất thích vẽ, vẽ rất nhiều. Vẽ trong sáng, vẽ tự do, vẽ như trẻ thơ…, để rồi thành một nét riêng, lạ. Hoàng Hồng Cẩm cũng thích vẽ chân dung như cha mình, đặc biệt chân dung tự họa. Ông cũng luôn nhớ lời cha dặn: “Khi vẽ xong một bức chân dung, hãy hỏi cảm nhận của phụ nữ và trẻ em là chính xác nhất”.

    Thật vinh hạnh khi phiên đấu này hiện diện một tác phẩm thuốc nước thuộc giai đoạn hoàn mỹ của họa sĩ Lưu Công Nhân (1929-2007): những thập niên 1950-1960. Cũng thật tình cờ, người thầy đầu tiên và trực tiếp của ông chính là Tô Ngọc Vân - khóa mỹ thuật kháng chiến tại Việt Bắc (1950 -1953), nhưng thần tượng sâu kín của ông lại là Auguste Renoir (1841-1919). Renoir tiên phong về phong cách biểu hiện, luôn đề cao vẻ đẹp tự nhiên, đặc biệt cơ thể phụ nữ. Lưu Công Nhân chịu ảnh hưởng rất rõ về quan niệm này. Ông cho rằng việc một họa sĩ Việt Nam chịu ảnh hưởng từ truyền thống, từ bên ngoài là chuyện đương nhiên, còn cái riêng, nếu có, là do khả năng chắt lọc của từng người, đặc biệt, phải bày tỏ được cõi lòng riêng tư của mình. Chính cõi lòng riêng tư làm nên cốt cách, bản sắc của từng họa sĩ, từng dân tộc.

    Hơn 10 năm gần đây tác phẩm của Văn Đen (1919-1988) lại được tìm kiếm nhiều hơn, một tín hiệu vui. Dù từ trước 1975 ông đã có 6 triển lãm cá nhân và hơn 10 triển lãm nhóm, là một họa sĩ được chú ý, nhưng do hoàn cảnh lịch sử, hội họa miền Nam nói chung đã chịu những lép vế nhất định, đôi khi không đáng có. Văn Đen sinh tại Cần Thơ, tự học vẽ từ năm l921, năm 1950 ông qua Pháp học dự thính Cao đẳng Mỹ thuật Paris, đến 1953 thì trở về nước. Ông là giảng viên mỹ thuật từ 1964 đến 1988 tại Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định (sau này Đại học Mỹ thuật TP.HCM). “Cũng như Bùi Xuân Phái, Văn Đen đã để lại một hình ảnh toàn vẹn về hội họa lẫn nhân cách. Mỗi người một bản sắc. Mỗi người một đỉnh cao, nhưng hơn thế nữa, hai họa sĩ đã trở thành biểu tượng chung cho tình yêu con người, quê hương, lòng vị tha và trái tim tận hiến”, họa sĩ Trịnh Cung nhận định. Từ góc độ sưu tập, có thể nói bộ sưu tập về tranh Văn Đen của gia đình kiến trúc sư Christian Pedelahore (khá nổi tiếng ở Paris hiện nay) là đầy đủ nhất.

    Mỗi phiên đấu luôn có một vài tiêu điểm, đáng chú ý bậc nhất của phiên này là tác phẩm Bản giao hưởng trắng của Hoàng Tích Chù (1912-2003). Ông tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 11 (1936-1941), sau đó trở thành hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957, ngay khi hội mới thành lập. Ông giữ nhiều chức vụ trọng yếu tại Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (1955-1969), tại Viện Mỹ nghệ Hà Nội, tại Hội Mỹ thuật Việt Nam… Về huân, huy chương và các giải thưởng, Hoàng Tích Chù gần như nhận tất cả các danh hiệu quan trọng nhất mà một họa sĩ tại Việt Nam có thể nhận được. Tên ông được đặt cho một con đường tại thành phố Bắc Ninh, quê nhà của ông.

    Tại sao Bản giao hưởng trắng lại đặc biệt? Ngoài một họa pháp quyến rũ, giàu yếu tố nhân cảm, đầy năng lượng tích cực, tác phẩm đã được vẽ ngay sau khi Việt Nam kết thúc chiến tranh (tháng 4/1975). Cái màu trắng và bản giao hưởng của nó trở thành một chiêm nghiệm riêng của họa sĩ về chiến tranh, về giá trị của hòa bình, về gắn kết vùng miền qua hình ảnh tình chị em, như song sinh. Đặc biệt nữa, ngay thời khắc đang hừng hực khí thế chiến thắng ấy, ông đã tự tách mình ra khỏi cái nhìn quen thuộc của thời cuộc, để tạo nên bản giao hưởng hòa bình, với một ẩn dụ sâu kín. Nhân vật trong tranh được cho là lấy hình mẫu từ chính người vợ của Hoàng Tích Chù, một tiểu thư xinh đẹp phố Hàng Bạc, Hà Nội.

    Bùi Quang Ngọc (sinh năm 1934) là sinh viên khóa đầu tiên của Đại học Mỹ thuật Việt Nam, ngay chiến thắng Điện Biên Phủ (1955-1957), với tên gọi khóa Tô Ngọc Vân, nhằm tưởng nhớ người thầy lớn của khóa mỹ thuật kháng chiến. Thời đó, Bùi Quang Ngọc được học những tên tuổi lớn như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Sĩ Ngọc, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Tỵ, Trần Đình Thọ… Về sau này, ông nổi danh với mảng ký họa, tranh chân dung và tranh khỏa thân, với bút pháp điêu luyện đến mức tự nhiên. Tranh phong cảnh của ông, dù không nhiều, nhưng có cách tiếp cận và bút pháp riêng. Khi đặt chân đến Đà Lạt năm 1977, ông đã ứa nước mắt vì phong cảnh, nề nếp sống nơi đây quá khác nơi vợ con đang sống. Trong sự xúc động đó, ông đã vẽ khá nhiều ký họa và làm tư liệu, về sau ông hoàn tất. Như tác phẩm Đà Lạt 1977 tại phiên đấu giá này cũng vậy, ông có quá trình thai nghén từ năm 1977 đến 2000 mới hoàn chỉnh. Đây cũng là dịp hiếm hoi mà Bùi Quang Ngọc chấp nhận gởi một tác phẩm đến phiên đấu giá, dù lời đề nghị trước đây không ít.

    Chóe (Nguyễn Hải Chí, 1943-2003) là tên tuổi lớn trong làng hí họa của Việt Nam, và một phần thế giới. Năm 1973, báo The New York Times bình chọn ông thuộc nhóm 8 họa sĩ biếm xuất sắc nhất thế giới thập niên 1970. “Tôi vẫn xem công việc hàng ngày của tôi là bọt biển. Nhưng chính bọt biển lại cho tôi biết được thủy triều, sức gió, sức bão và độ mặn của biển sâu”, Chóe từng bày tỏ quan điểm như vậy. Ông còn nổi tiếng với việc vẽ tranh phác họa cuộc đời của nhân vật, và vẽ theo bộ. Ví dụ bộ Những tổng thống Mỹ (41 tranh sơn dầu khổ lớn, bộ sưu tập tư nhân tại Hoa Kỳ); Phụ nữ nước tôi (10 hí họa, các năm 1995 và 1996, sưu tập của gia đình Chóe); Những nhân vật Việt Nam (57 tranh sơn dầu, bộ sưu tập tư nhân tại TP.HCM); Họa thơ Hồ Xuân Hương (27 tranh sơn dầu, bộ sưu tập tư nhân tại TP.HCM); Những phụ nữ Nobel (40 tranh sơn dầu, bộ sưu tập tư nhân tại TP.HCM); Vision d’Été 1998 (20 tranh sơn dầu, sưu tập của gia đình Chóe); Chân dung văn nghệ sĩ” (28 tranh sơn dầu, bộ sưu tập tư nhân tại Mỹ)… Tác phẩm tại phiên đấu này kết hợp cả hí họa và cả phác họa đặc trưng con người Hemingway, nhà văn nổi tiếng với Chuông nguyện hồn ai, Ngư ông và biển cả

    Một sự trùng hợp trên mức ngẫu nhiên, tại phiên đấu buổi tối có tên Asian 20th Century & Contemporary Art của nhà Christie’s tại Hong Kong, cũng ngày 27/5, sẽ bán tác phẩm sơn mài Nostalgie du Haut Tonkin (Nhớ trung du Bắc bộ, 80 cm x 40 cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí với giá ước đoán từ 154.812 đến 232.217 USD. Tại phiên đấu này của Lythi Auction xuất hiện chính bản ký họa trên giấy can của tác phẩm vừa kể, với tên gọi là Phong cảnh đồng quê (74 cm x 40 cm, 1968). Do hai tác phẩm này được thực hiện trong cùng một năm, nên độ xê xích hình họa từ ký họa đến sơn mài không nhiều. Nguyễn Gia Trí trở thành bậc thầy vì nhiều lý do, trong đó có thao tác ký họa giấy can quá kĩ lưỡng, hoàn toàn có thể đứng độc lập như một tác phẩm.

    Ngoài ra, phiên đấu này còn giới thiệu những tên tuổi thời danh khác như Hồ Hữu Thủ, Mai Long, Đỗ Xuân Doãn, Lê Quảng Hà, Lê Kinh Tài, Đoàn Hồng, Dương Sen… Đây là những tên tuổi đang rất dễ tìm thấy trên mạng và nhiều nguồn thông tin khác, nên không đề cập chi tiết.

    Chi tiết xin tham khảo: http://lythi.com/

    Các tác phẩm được treo bán đấu giá:






Share:         LinkHay.com

Các tin đã đưa