E-mail        Print        Font-size  
  • Đây lửa khói vàng son lẫm liệt

    Trần Tuấn Long - Chầu tứ (4). 1999. Sơn mài. 100x100cm



    Đi qua hết đất của “bán đảo” Thủy Nguyên, là đến Phà Rừng, ngã ba sông Chanh, qua Phà Rừng là đến thị xã Quảng Yên, vốn là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Yên cũ có từ đầu thời Nguyễn và suốt thời Pháp thuộc. Quảng Yên nằm cạnh đất Thủy Nguyên, nơi người dân Phục Lễ được coi là có “giọng nói chuẩn nhất miền Bắc”; gần đảo Hà Nam, là nơi đóng ra những con thuyền cổ “ba vách buồm cánh dơi” lộng lẫy khắp Vịnh Hạ Long một thời. Khu vực này là nơi phối lưu của sông Rút, sông Chanh, sông Kênh và sông Vân Cừ (Bạch Đằng) cùng một loạt những con nước nhỏ đổ ra cửa Bạch Đằng vô cùng hiểm trở và oanh liệt trong lịch sử chống ngoại xâm. Những bãi cọc Bạch Đằng giang được người ta tìm thấy ở đây từ giữa những năm 50 của thế kỷ trước, trở thành di tích quốc gia đặc biệt. Người dân Quảng Yên vẫn giữ được truyền thống của một đô thị cổ hơn 200 năm tuổi trong nếp sống, nếp ăn, ở. Nơi đây ngoài đền Trần, vô vàn đình chùa miếu mạo khác còn có Miếu Vua Bà, tương truyền thờ một bà cụ bán hàng nước dưới gốc cây quếch đã mách tường tận cho Hưng Đạo Vương về hướng gió, quy luật thủy triều và địa thế lòng sông để ngài lập thế trận cuối cùng đuổi giặc…

    Sinh ra ở một nơi như thế, hẳn bất kỳ ai cũng chẳng kém tự hào. Trần Tuấn Long sinh ra trong gia đình có “nòi” mỹ thuật, cha quê gốc Thái Bình, mẹ ở Quảng Yên. Anh được người cha truyền cảm hứng đến với nghệ thuật tạo hình từ nhỏ bởi ông cũng học mỹ thuật tại Hà Nội và trở về Quảng Ninh làm họa sĩ trong ngành văn hóa của tỉnh. Họa sĩ lên Hà Nội học nghề sơn mài trước khi bước vào trường mỹ thuật Yết Kiêu. Được tiếp thu kỹ năng làm nghề thể hiện sơn mài từ nhiều bậc thầy có tiếng ở Hà Nội, khi vào học mỹ thuật, anh chuyển sang học đồ họa, bởi nghề sơn mài đã nắm vững từ trước. Ra trường, anh kiếm sống tự do bằng vẽ tranh sơn mài chuyên nghiệp. Ngoài sáng tác cho cá nhân, họa sĩ còn từng làm công việc họa sĩ thể hiện sơn mài (chuyển chất liệu) cho nhiều họa sĩ khác. Anh tham gia đều đặn các triển lãm của Hội Mỹ thuật, CLB Họa sĩ trẻ, tham gia Nhóm Sơn ta và một số dự án, cũng đoạt một số giải thưởng và tặng thưởng mà giải lớn tiền nhất là giải Mỹ thuật ASEAN (tài trợ của Phillip Morris) năm 2003 (cùng 4 tác giả khác) với một bức sơn mài to đùng “chống” đại dịch SARS. Tranh của Long cũng được "xuất khẩu" trong bộ sưu tập của một số tư nhân quốc tế như Hàn, Đức, và gần đây nhất là trong bộ sưu tập tư nhân của các đại gia Đài Loan…


     Trần Tuấn Long - Chầu Năm (5). 1998. Sơn mài. 100x100cm

    Vẽ về đề tài tín ngưỡng thờ Mẫu, mà hình ảnh kịch tính nhất của nó là các pha “showcase” hầu đồng, thì Trần Tuấn Long không phải là người đầu tiên. Được biết đến trước đó là hai họa sĩ Vũ Thanh Nghị và Phạm Tuấn Tú. Vũ Thanh Nghị có hai triển lãm cùng mang tên “Lên đồng” năm 2008 và 2015. Nếu như triển lãm năm 2008 của Nghị mượn cái vũ đạo mầu sắc của các giá hầu đồng để thao diễn bút pháp lập thể chuyển động kiểu Marcel Duchamp trong Khỏa thân bước xuống cầu thang-số 2 thì năm 2015 anh chuyển sang vẽ biểu hiện. Còn triển lãm Nhập nhằng của Phạm Tuấn Tú năm 2014 thì hình ảnh trên tranh không hề có việc hầu đồng ở bất cứ tác phẩm nào. Nhưng cái chất “đồng cốt”, cái mùi “cô đồng” trong sự hoán đổi ảo giác và om sòm thanh động ấy toát lên rất rõ trong phẩm chất của các bức họa…

    Trở lại việc tại sao tôi điểm đôi điều về lịch sử Quảng Yên và cửa Bạch Đằng, miếu Vua Bà… ngay từ đầu bài, là khởi nguồn việc Trần Tuấn Long vẽ các giá hầu đồng ấy từ một lần anh đưa bạn về quê chơi và đi dự hầu đồng ở miếu Vua Bà quê anh. Không rõ khung cảnh, thời điểm, không gian cái đêm đó như thế nào, đã động đến cái “căn” gì sâu thẳm trong anh, khiến anh “như lên đồng” lao vào vẽ các “giá thánh” từ đó. Bức tranh đầu tiên được vẽ vào năm 1998 là bức Chầu tứ.

    Nếu ta nhìn bức tranh này, thì rõ ràng là tác phẩm đầu tiên đã “khai triển” tất cả lối đi cho các tác phẩm sau này trong loạt tranh 26 bức bày trong triển lãm. Nhân vật chính trong tranh, một thanh đồng đang nhập đồng vào một Bà Chúa nào đó, đằng sau lưng là hình ảnh các “đạo cụ” phục vụ một giá đồng, cờ phướn, tiền bạc, đồ trang sức… Một bà cụ chắc là “con nhang đệ tử” đang châm một nén nhang để hầu thánh. Long vẽ sơn mài để diễn tả một hình ảnh hiện thực, và kỳ công dùng vàng son để diễn tả lửa khói và cái không gian tưng bừng rộn rã tùng xoèng của đêm giá chầu. Những mầu “rợ” và rất khó dùng như màu hồng xác pháo, tím lịm, xanh lục… trong phục trang của các thanh đồng cũng được họa sĩ điểm và dìm nhuần nhuyễn bằng các sắc độ sơn mài.


    Trần Tuấn Long - Quan Trần Triều. 2003. Sơn mài. 85x130cm



    Trần Tuấn Long - Bà chúa Thượng Ngàn. 2002. Sơn mài. 85x130cm

    Nhưng hầu đồng nhập thánh là những nghi lễ của tín ngưỡng vừa thực mà rất thực, nhưng cũng rất phi thực trộn lẫn. Làm sao để diễn tả được cái không gian nửa thực nửa hư đến như thế? Tôi từng xem hầu đồng ở một phủ ở Thái Bình lần đầu hồi trẻ, ba bốn đám hầu cùng trong một điện to, bài trí không được long trọng, loa đài tranh “nhảy vào mồm” nhau… nên cảm giác không thích. Nhưng một lần khác, đến nhà bạn chơi, thấy bạn ngồi chồm hỗm, mắt sáng rực nghe một đĩa hát văn của Thanh Ngoan – Khắc Tư. Đĩa này là đĩa tự quay, có lồng cảnh lên đồng và cảnh núi non, sông nước của những nơi đền tích như đền Củi ông hoàng Mười, đền Bảo Hà ông Hoàng Bảy... Chợt giật mình thấy cảnh núi non sông nước đó hiện ra trong tiếng hát văn ra khác hẳn, núi không còn chỉ là núi, sông không chỉ là sông nữa, mà là linh khí núi sông cả ngàn năm huyền thoại cùng hiện ra (trong lòng mình) theo tiếng nhạc. Tuy sau này biết hai danh ca hát chèo ấy chưa phải là hàng “thượng thặng” trong nghề hát văn, vì giọng của họ có dính chất chèo vào đó. Nhưng sau này cũng biết cảm nhận cái hay, cái đẹp lạ của nghệ thuật trong việc hầu đồng từ ca vũ, bài trí, phục trang...

    Trở lại tranh của Long, làm sao để diễn tả được cái không gian nửa thực nửa hư ảo của không gian giá thánh? Bởi vì tranh thì đâu có đưa được nhạc hát văn, là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho buổi hầu đồng vào được. Những bức về sau, họa sĩ tìm được một biện pháp “chết người” là dùng tranh thờ Đạo giáo của các dân tộc Tây Bắc như Dao, Tày, Nùng… để làm “nền” cho nhân vật thật chính đang thượng đồng. Điều này không biết họa sĩ vô tình hay có nghiên cứu mà đâm ra lại rất chuẩn. Tín ngưỡng thờ Mẫu thuộc sa – man giáo, là một tín ngưỡng nguyên thủy có ở rất nhiều dân tộc, và Đạo giáo của các dân tộc miền núi Tây Bắc rất gần gũi với việc lên đồng. Những lễ như lễ cấp sắc, nhảy lửa của người Dao, các loại cúng trừ tà của tộc khác thì bản chất cũng chính là những lễ lên đồng thôi (các thầy mo, thầy tào sẽ treo tranh thờ quanh nhà trong những lễ đó). Việc lấy yếu tố “cổ” của tạo hình dành cho lên đồng (bởi những hình ảnh tranh thờ hay hình nhân, con mã được chiết xuất để làm “phông” cho yếu tố “kim” là những nhân vật của hiện tại, tạo hình hiện thực nhảy múa ngoài đối lập tạo hình ra, còn đắc địa một chỗ là giống như nó tạo ra được một cái gì đó văng vẳng như âm thanh của lời hát văn, ẩn ở trong những mảng nền tối âm u của sơn mài, hay sự va đập của các miếng mầu chọi nhau gắt, gợi lên tiếng đàn, phách, trống của các cung văn dập dìu dồn nhạc…

    Trần Tuấn Long đã tìm được con đường sơn mài để chạm vào hội họa một nghệ thuật trình diễn thuộc loại kỳ lạ nhất của truyền thống văn hóa Việt nằm dưới nhiều lớp áo tín ngưỡng lịch sử. Và tấu lạy cô, đây lửa khói vàng son lẫm liệt ạ…!

     
    Vũ Lâm

Share:         LinkHay.com