E-mail        Print        Font-size  
  • Kỷ niệm 42 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 -30/42017): Đi vẽ ngay dưới chân đồn địch

    ĐOÀN VĂN NGUYÊN - Vào cuộc chiến đấu mới. 1973. Màu nước
     


    Cuối năm 1972, tôi cùng hai nhà văn Nguyễn Khắc Phục và Hoàng Sơn đi công tác Quảng Đà. Chiến trường Quảng Đà lúc ấy vốn vô cùng ác liệt, nhiều anh chị em trong Hội Văn nghệ Giải phóng Khu 5 đã hy sinh ở chiến trường này, như nhà văn Dương Thị Xuân Quí, nhà văn Chu Cẩm Phong, nữ biên đạo múa Phương Thảo.

    Chúng tôi được giao liên đưa về xã Xuyên Hòa, huyện Xuyên Thanh. Xã này đang có phong trào du kích đánh giặc rất mạnh để bảo vệ đồng bào, giữ đất giữ dân. Có những chú em du kích còn khá nhỏ tuổi mà chiến công đánh giặc đã lẫy lừng như em Tượng, như hai anh em Hùng và Hinh. Tôi vẽ các nữ chiến sĩ đang phục kích máy bay trực thăng trong các ổ tác chiến. Đó là những ụ súng đại liên 12 ly 7 đặt vững chắc trong các chiến hào, xung quanh được đắp bằng đất cao tới ngang cổ, cạnh đó là những căn hầm chữ A kiên cố. Tôi còn vẽ chân dung các bà mẹ du kích luôn tham gia đấu tranh chính trị chống âm mưu dồn dân, lập ấp chiến lược của chính quyền Mỹ, ngụy...


    HOÀNG ĐÌNH TÀI - Khẩn trương triển khai chiến đấu. 1969. Mực nho

    Những ngày đầu năm 1973, cả chiến trường có lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Paris. Chiều 23 tháng 1 năm 1973, du kích xã đưa tôi ra vẽ ở thôn Giáng La, xã Điện Thọ chỗ cầu Cẩm Lý, ngay sát chân đồi Bồ Bồ. Vì đã có lệnh ngừng bắn nên du kích bảo tôi để lại súng ống trong nhà dân, chỉ cần mang cặp vẽ, giấy màu đi thôi. Đồn Bồ Bồ của lính ngụy nằm trên các quả đồi cao, đất bị san phẳng đỏ lòm, không một bóng cây. Dưới đường cái, du kích, bộ đội và cả lính ngụy không một ai cầm súng. Họ đứng xen nhau, nói chuyện cười đùa rôm rả. Đồng bào thì kéo nhau ra giữ đất, họ cắm cờ Giải phóng, nửa đỏ, nửa xanh, có ngôi sao vàng ở giữa trên các mảnh đất bị chính quyền ngụy chiếm đóng.

    Tôi lấy giấy bút ra ký họa nhanh rồi cũng tham gia nói chuyện với mọi người. Có anh lính ngụy cũng chỉ trạc tuổi tôi, trang phục gọn gàng tới bắt chuyện: “Tôi tưởng ngoài Bắc các anh chỉ biết sản xuất thi đua, không biết là các anh còn có cả những họa sĩ, nhạc sĩ nữa?...”. Anh này nói giọng Bắc, bảo là quê ở Thái Bình, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954.



    Hàng trên từ trái sang: Nguyễn Thế Vinh, Triệu Khắc Lễ, Trần Trung Chính, Lê Khắc Cường, Lê Anh Tuấn. Hàng dưới từ trái sang: Giang Nguyên Thái, Đoàn Văn Nguyên, Hà Xuân Phong, Nguyễn Viết Ngọc. (Ảnh chụp tại Dốc Voi năm 1972 - ảnh tư liệu của họa sĩ Giang Nguyên Thái)

    Anh cũng đang học Đại học Văn Khoa Sài Gòn thì bị bắt đi lính rồi vào học sĩ quan. Anh chăm chú đứng xem tôi vẽ, rồi hỏi tên họ và bảo: “Tôi sẽ ghi nhớ tên anh, biết đâu sau này đất nước yên hàn, chúng ta lại sẽ có dịp gặp nhau...?”. Suốt mấy năm ở chiến trường, lần đầu tiên tôi có được cảm giác đây những phút thanh bình hiếm hoi và đầy ắp tình người.

    Đang nói chuyện vui vẻ thì anh ta nghe điện đài rồi nét mặt biến sắc, anh hốt hoảng nói: “Họ phá hoại Hiệp định Paris rồi, các anh mau về ngay cho an toàn”. Cả du kích, bộ đội và lính ngụy đều vội vã quay về hai phía. Chỉ một lúc sau, xe lội nước 113 kéo đến, chúng bắn vãi đạn, tiếng nổ tăng tắc trên đầu chúng tôi. Tôi chạy theo toán bộ đội, men theo các bờ ruộng cao để tránh đạn. Cứ chạy vòng vo dưới làn đạn địch, mãi gần 2 giờ sáng, chúng tôi mới về tới xã Xuyên Thanh. Chui vội vào hầm chữ A, tôi mệt lử. Lúc sau có tiếng gọi dậy ăn cơm. Lùa miếng cơm, gạo còn sống vào miệng, trệu trạo nhai mà cũng thấy đỡ mệt hẳn. Hôm ấy chỉ có xe lội nước đuổi, nếu chúng có trực thăng thì chắc hẳn chúng tôi đã không còn một ai...

    Sau trận chạy giặc đó, nhận thấy ở Xuyên Thanh quá nguy hiểm, Ban Tuyên huấn Tỉnh cử họa sĩ Đức Hạnh dẫn tôi về vẽ ở Vùng B huyện Đại Lộc. Ở đây tình hình dễ chịu hơn, ít bị địch càn hoặc đổ quân quấy nhiễu, nhưng bom pháo lại liên miên. Tối nào chúng tôi cũng phải chui vào hầm chữ A, treo võng ngủ để tránh bom, tránh pháo.



    GIANG NGUYÊN THÁI - Chị nuôi bên suối Hoa, Thạnh Mỹ, Nam Giang. 1973. Màu nước

    Hết thời gian công tác, tôi khoác balô, cặp vẽ trở về căn cứ. Hội Văn nghệ Giải phóng Khu 5 lúc này về đóng ở vùng Cầu Bà Huỳnh, Bà Xá thuộc huyện Hiệp Đức, có con sông Trà Nô chảy ra sông Trường. Họa sĩ Hà Xuân Phong đã bị nước cuốn trôi trên con sông này, con sông rất hiền hòa vào mùa khô nhưng cũng cực kỳ hung hãn trong mùa nước lũ.

    Hơn một tuần sau, tôi nhận được toàn bộ dây lưng, súng ngắn... do các anh du kích xã Xuyên Thanh gửi trả. Cây súng K59 là quà tặng của họa sĩ Nguyễn Thế Vinh, trước khi đi công tác, anh đã cho tôi và bảo: “Giang Nguyên Thái đi Quảng Đà, chiến trường ác liệt lắm, anh tặng em khẩu K59 này để phòng thân”. Khẩu K59 nhẹ hơn súng K54 rất nhiều. Khẩu súng này đã ở bên tôi suốt những năm sau đó, cho đến lúc ra Hà Nội - cuối năm 1974 tôi mới tặng cho anh em còn ở lại chiến trường. Đeo súng để phòng thân thôi, vì suốt 5 năm ở chiến trường, tôi cũng chưa phải dùng đến một viên đạn nào!

    Giang Nguyên Thái

Share:         LinkHay.com