E-mail        Print        Font-size  
  • Kỷ niệm 100 năm ngày sinh họa sĩ, nhà giáo Tạ Thúc Bình (1917-2017), giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2001: Những kỷ niệm về một người thầy

    TẠ THÚC BÌNH - Góp thóc vào kho. 1960. Lụa. 88x63cm



    Tôi tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam năm 1962, nhà trường giữ lại biên chế vào đội ngũ các thầy cô giáo để làm công tác giảng dạy. Thầy Tạ Thúc Bình khi ấy vừa giảng dạy vừa phụ trách Trưởng ban Giáo vụ của nhà trường. Tôi 27 tuổi, thầy Bình lúc ấy ở tuổi 45, tầm vóc vừa phải gương mặt khá điển trai với nụ cười tươi và hiền.

    Do là tập sự giảng dạy mỹ thuật là “tân binh” nên tôi lúng túng. Thầy Bình gần gũi, chỉ vẽ cho tôi nhiều hơn các thầy khác về phương pháp sư phạm, khi ấy tôi nghĩ vì thầy thực thi trách nhiệm của thầy Trưởng ban Giáo vụ nên mới nhiệt tình với tôi như thế. Về sau này tôi hiểu là thầy cũng thấy hợp và yêu mến tôi.

    Trong giảng dạy, điều gây ấn tượng với tôi là thầy Bình yêu cầu trò học mỹ thuật là phải thực sự cầu thị, nghĩa là khi vẽ người, vẽ con vật, đồ vật, phong cảnh, thiên nhiên v.v... người vẽ phải nhìn quan sát những đối tượng này cho thấu đáo. Có câu: “trăm nghe không bằng một thấy”, vì mỹ thuật là nghệ thuật trực giác (thị giác) xem tranh chứ không ai nghe tranh. Phải quan sát cho tỏ tường, thấu đáo, rồi mới tập ghi chép. Thầy Bình còn phân tích: không phải là cố ghi cái vẻ ngoài của sự vật mà là tìm cái tinh thần, cái đặc điểm cốt lõi của nó. Vẽ cái gì thì phải rõ cái ấy. Không thể vẽ con trâu nhìn tưởng con ngựa, vẽ cây xoan nhìn như cây bưởi... Vẽ chưa đạt thì nên kiên nhẫn vẽ thêm, vẽ thêm là để luyện tay. Thầy Bình rất không bằng lòng nếu trò sốt ruột nôn nóng, hoặc đi đến vẽ bịa. Đấy là yêu cầu thực sự cầu thị.

    Thầy Bình yêu quý trò như con

    Trong mấy chục năm trời, tình cảm này thật đậm nét. Bởi học sinh trung cấp thời ấy, những lứa học trò khóa 7 năm, 5 năm, khi nhập trường còn ở tuổi thiếu niên. Thầy thường quý các thế hệ trò là học sinh miền Nam, các em miền núi (thuộc nhiều dân tộc) phải sớm xa gia đình khi còn nhỏ dại. Tình cảm này còn thể hiện rõ nét và muôn vẻ hơn trong những đợt đi thực tập. Đền đáp lại, các thế hệ học trò từng được thầy dạy bảo nay đều đã trưởng thành, thành đạt, đã nên ông nên bà cả rồi. Nhiều trò sau này là hiệu trưởng trường Mỹ thuật Yết Kiêu, Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều trường Văn hóa Nghệ thuật trong cả nước. Có trò là đại biểu Quốc hội, là Giám đốc Sở Văn hóa v.v... Tất cả họ vẫn một lòng biết ơn thầy Bình, kính trọng và ngưỡng mộ thầy.


    Họa sĩ Tạ Thúc Bình (1917 - 1998)

    Thầy Bình đưa trò đi thực tập

    Năm 1956, Thầy đưa một nhóm học trò gồm: Văn Đa, Quang Thọ, Nguyễn Thụ, Trương Hiếu v.v... đi vẽ ở làng Càng (huyện Đồng Mỏ - Lạng Sơn). Quang Thọ, Nguyễn Thụ và thầy Bình ở nhà ông Vẳn (dân tộc Tày) một gia đình trung nông khá giả, nhà sàn to đẹp. Ông Vẳn có bà mẹ già là mế Sâm. Mế Sâm gần 80, người dong dỏng, thanh nhã, khuôn mặt trái xoan trắng hồng, mũi dọc dừa và đôi mắt đen nhánh, lúc nào mắt cũng như cười. Mế vui tính mau miệng kể: “Cậu Bình ơi, ngày xưa cũng có cậu Trí, cậu Sìn lên ở nhà mế, vẽ mế nhiều cái tranh đẹp lắm, năm sau lại thêm cậu Cẩn, cậu Chù, cậu Sỹ Ngọc. Cậu Trí còn vẽ A (cô) Đạt, nó xinh đẹp lắm nhưng rồi xấu hổ quá nó cứ trốn vào trong rừng”. (Các họa sĩ Mỹ thuật Đông Dương khóa trước Nguyễn Gia Trí, Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Sỹ Ngọc).

    Thầy trò cùng vẽ ký họa mế Sâm, vẽ xong, mế xem khắp lượt và mế nhận xét, cậu Bình vẽ giống nhất, đẹp nhất. Hè năm sau, Thụ lại lên vẽ làng Càng và đem được A Đỗ về Hà Nội để trở thành A Nguyễn Thụ. Thầy Bình rất vui và nói với trò Thụ: “Mình rất nể phục tài... tán của cậu”.

    Năm 1966 thầy Bình đưa lớp đi thực tập ở Tà Lài, Đồng Đăng, Lạng Sơn. Xuất phát từ xã Quang Minh, huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang (nơi trường Mỹ thuật Yết Kiêu sơ tán). Thầy trò vừa hành quân bộ, vừa đi nhờ tàu chở hàng, ô tô tải chở hàng, vất vả mà vui.

    Giữa trưa thì đến thị trấn Kép (Bắc Giang) còi kẻng báo động có máy bay Mỹ. Đạn ta bắn lên, bom Mỹ thả xuống, tiếng nổ ầm ầm, trước mắt lửa đỏ khói đen ngút trời, chỉ cách chỗ thầy trò chưa đầy 100m. Trong căn hầm chữ A ven đường nhựa có tôi, thầy Bình và nhóm nữ sinh khoảng dăm em. Đất dưới chân và vách hầm rung lên bần bật. Các em quá hoảng sợ. Mai San, Tạ Phương Thảo... khóc thút thít, rơi nước mắt. Có tiếng người nói to: “chúng nó thả bom ga Kép”. Chỉ 5 phút thì máy bay "cút", ra khỏi hầm, trước mặt vẫn còn thấy những đám cháy lớn.

    Rất may, thầy trò không ai dính thương tích. Có em chỉ toác ống quần, rách túi áo, vài em tuột quai dép lốp hoặc lấm láp cặp vẽ. Thầy Bình nói vui như để động viên học trò: “Chúng ta vô sự là mình thắng Mỹ rồi”. Một chi tiết tôi không quên là khi đoàn hành quân qua Kép một cây số, thấy bạt ngàn đồi mâm xôi trồng dứa, quả dứa vàng hoe, mùi dứa chín hấp dẫn quá, trong khi mọi người đều mệt và rất khát nước. Dứa rẻ như cho, thầy trò được một bữa no dứa, có một cô tự vệ trẻ say dứa, miệng gào khóc rất to: "Các bác ơi cứu em với" và cô ấy cũng không làm sao.

    Sẩm tối thì đoàn đến đích. Tà Lài là công trường xây dựng nhà máy xi măng địa phương của tỉnh Lạng Sơn, hứa hẹn một địa điểm có nhiều sự việc thầy trò tha hồ vẽ.


    TẠ THÚC BÌNH - Mùa lúa chín. 1955. Bột màu. Sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

    Năm 1968, một hôm tôi ra vẽ cầu Hàm Rồng, gặp thầy Bình cũng đang vẽ ở đây. Quần soóc, nón lá, thầy ngồi trên tảng đá lớn, cách đầu cầu chừng hơn chục mét. Thầy ký họa đội thanh niên xung phong đang sửa đường cho ô tô và tàu hỏa vào cầu. Thầy vẽ nét rồi lướt màu thuốc nước, vẽ thong thả, rửa bút trong cái ca nhôm Liên Xô đặt trên tảng đá cạnh chỗ thầy ngồi. Những bức ký họa của thày rất đẹp. Đang vẽ, ở Hàm Rồng báo động có máy bay địch chỉ bằng ba tiếng kẻng khô khốc. Tôi thấy thầy Bình thật mau lẹ chui vào hầm chữ A ở phía sau lưng thầy chừng 5m.

    Thầy Bình vẽ tranh

    Vì sáng tác liên tục hàng mấy chục năm, tranh của thầy không ít, tôi chỉ xin viết đôi lời về hai bức tranh có nhiều ấn tượng trong tôi: "Mùa lúa chín" (cánh đồng lúa vàng). Thầy Bình kể sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thầy tranh thủ về phép thăm mẹ già và gia đình. Trên đường về quê (thị trấn Kép) khi băng qua cánh đồng xã Tân Thịnh, thấy đồng lúa chín vàng, thơm hương lúa, cảm xúc dâng trào, họa sĩ về nhà mang họa phẩm, vác giá vẽ, đặt giữa đồng vẽ trực tiếp chỉ trong khoảng ba giờ thì xong. Bức tranh cho thấy toàn cảnh là một biển lúa chín, một nhóm người gánh lúa và trẻ chăn trâu dưới bóng mát của hai cây đa cổ thụ. Ở phía xa có quán ngói, bóng đa giữa đồng. Cảnh rất điển hình của đồng quê miền Bắc Việt Nam, cái nắng xứ nhiệt đới có gió đồng táp ngả ngọn lúa xôn xao, thật là sinh động.

    Bức thứ hai là tranh "Góp thóc vào kho", bố cục tranh là khoảng nhìn từ trên cao xuống. Trên đỉnh đồi có bảy nhà kho tròn, nóc cũng tròn hình nón. Kho làm bằng gianh tre, nứa lá và cót. Hàng trăm con người, trẻ già, nam nữ, người Kinh, người Tày, Nùng đang tấp nập gánh thóc sàng sẩy, quạt thóc bằng quạt hòm, dồn thóc vào bao. Nhiều chỗ cân thóc, ghi chép vào sổ.

    Họa sĩ khoe ra hàng trăm dáng người đi đứng, ngồi túm năm tụm ba, chuyện trò cười nói, các loại trang phục, nhiều kiểu vấn khăn, mũ, tóc khác nhau, dân tộc nào ra trang phục của dân tộc ấy. Các loại thúng mủng, mẹt, nong, nia, quang gánh... cờ đỏ sao vàng mầu đỏ vui mắt làm cho hòa sắc thêm ấm áp. Tổng thể nêu rõ cho người xem: một ngày hội đóng góp thuế nông nghiệp vào kho. Việc xử lý đậm nhạt, sáng sẫm, mầu nóng, mầu lạnh trên tác phẩm là rất khó đòi hỏi người vẽ phải có nhiều vốn sống, cao tay nghề và tình cảm chân thực.

    Thầy Bình thích và có sở trường vẽ tranh có bố cục rất đông người, bức tranh "Mừng thắng lợi cải cách ruộng đất" là một minh chứng. Những tranh vẽ nhiều người của thầy Bình thường níu giữ người xem, xem lâu không nỡ rời đi bởi trong tranh có nhiều chi tiết rất đẹp như rủ rỉ kể chuyện với người xem tranh, rất thực như chính cuộc đời là như vậy.

    Đỗ Hữu Huề

Share:         LinkHay.com