E-mail        Print        Font-size  
  • Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam (8/4/1957-8/4/2017): Hội nghị thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam

     

    Sau Đề cương Văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh khởi thảo, một số họa sĩ đã tham gia Hội Văn hóa cứu quốc và cuộc Cách mạng tháng 8/1945, thành lập nước Việt Nam dân chủ công hòa. Sau Cách mạng tháng Tám, các họa sĩ đã tập hợp trong Hội Văn hóa cứu quốc để sáng tác tranh cổ động, tổ chức các triển lãm mỹ thuật, tiêu biểu là Triển lãm Văn hóa khai mạc ngày 7 tháng 10 năm 1945 và Triển lãm Mỹ thuật tháng Tám khai mạc vào ngày 18 tháng 8 năm 1946 nhân dịp kỷ niệm một năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.

    Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, nhiều họa sĩ đã ra chiến khu, bưng biền tham gia các hoạt động, các cơ quan, trường học và quân đội. Nhiều sáng tác và triển lãm mỹ thuật đã được tổ chức tại Việt Bắc, khu III, khu IV, khu V và Nam Bộ. Đáng chú ý là Phòng triển lãm Hội họa kháng chiến năm 1948 do Báo Cứu quốc tổ chức tại Việt Bắc với 53 tác phẩm chọn lọc của nhiều tác giả. Triển lãm Hội họa năm 1951 tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang với 300 tác phẩm của nhiều tác giả trường Mỹ thuật Đông Dương và sinh viên trường Mỹ thuật kháng chiến. Bác Hồ đã gửi thư cho các họa sĩ nhân dịp khai mạc triển lãm này.

    Tại Việt Bắc, từ ngày 23 đến 25 tháng 7 năm 1948, đã tổ chức Đại hội Văn nghệ toàn quốc với 80 đại biểu của các ngành văn - họa - nhạc - kịch của các khu trong cả nước đến dự họp, trong đó có 11 đại biểu ngành Mỹ thuật, đó là các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Đình Thọ, Phạm Văn Đôn, Phan Kế An, Dương Bích Liên, Mai Văn Hiến và Lê Phả. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam gồm 17 người trong đó có 3 Ủy viên Mỹ thuật là họa sĩ Trần Văn Cẩn đại biểu cho các liên khu ở phía Bắc; họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đại biểu cho Nam phần Trung bộ, họa sĩ Huỳnh Văn Gấm đại biểu cho Nam bộ (mặc dù hai họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và Huỳnh Văn Gấm không ra tham dự Đại hội được). Năm 1951, tại Việt Bắc, đã thành lập Ban Mỹ thuật Trung ương gồm các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Phan Kế An, Nguyễn Tư Nghiêm, Huỳnh Văn Gấm và các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp. Đến năm 1954, Ban Mỹ thuật Trung ương đã được kiện toàn gồm các họa sĩ: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Khang, Huỳnh Văn Thuận, Trần Đình Thọ, Lê Quốc Lộc. Các tổ chức trên có thể coi là tiền thân của Hội Mỹ thuật Việt Nam sau này.


    Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật chuyện trò cùng họa sĩ Nguyễn Phan Chánh tại Đại hội văn nghệ Toàn quốc lần thứ 3 (11/2/1962).


    Năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, lực lượng Mỹ thuật từ chiến khu, miền Nam tập kết và Hà Nội được tổ chức hoạt động trong Ban Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Việt Nam. Ban Mỹ thuật đã tổ chức được nhiều triển lãm tại Nhà triển lãm số 10 Hàng Đào và hai triển lãm lớn là Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1954 và năm 1955.

    Năm 1955, Ban Trù bị Đại hội thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam đã được hình thành gồm các họa sĩ Trần Văn Cẩn, Huỳnh Văn Thuận, Phan Kế An, Nguyễn Đỗ Cung, Lê Quốc Lộc, Mai Văn Hiến, Trần Đình Thọ và nhà điêu khắc Trần Văn Lắm; sau đó bổ sung thêm các họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Gấm, Nguyễn Cao Thương, Nguyễn Văn Mười và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

    Sau gần 2 năm chuẩn bị, từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm 1957, Hội nghị thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam đã được tổ chức trọng thể tại Câu lạc bộ Hội Liên hiệp Văn nghệ Việt Nam tại nhà số 1 phố Bà Triệu, Hà Nội với gần 200 họa sĩ, nhà điêu khắc tham dự. Theo tài liệu đánh máy năm 1963 còn lưu giữ được thì những hội viên đầu tiên của Hội MTVN năm 1957 gồm có 123 người (xếp theo vần A, B, C): Phan Kế An, Nguyễn Bích, Nguyễn Văn Bình, Tạ Thúc Bình, Nguyễn Văn Bổng, Trần Văn Cẩn, Văn Cao, Ngô Minh Cầu, Nguyễn Phan Chánh, Diệp Minh Châu, Linh Chi, Trần Văn Chiêu, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Tiến Chung, Bùi Trang Chước, Nguyễn Đỗ Cung, Vũ Dương Cư, Phạm Đức Cường, Nguyễn Dung, Thu Dung, Trần Duy, Trần Dư, Ngô Tôn Đệ, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Kim Đồng, Đặng Đức, Đào Đức, Huỳnh Văn Gấm, Phạm Gia Giang, Văn Giáo, Nguyễn Đình Hàm, Phạm Hậu, Nguyễn Hiêm, Mai Văn Hiến, Nguyễn Phú Hiếu, Trần Trung Hiếu, Lê Huy Hoà, Nguyễn Phi Hoanh, Nguyễn Như Hoành, Văn Hoè, Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Huyến, Phạm Ngọc Khâm, Đinh Khang, Nguyễn Khang, Phạm Văn Khôi, Nguyễn Trọng Kiệm, Hoàng Kiệt, Nguyễn Thị Kim, Vũ Lai, Hồ Văn Lái, Lê Lam, Trần Văn Lắm, Dương Bích Liên, Ngọc Linh, Mai Long, Nguyễn Thành Long, Lê Quốc Lộc, Lê Nguyên Lợi, Trần Đông Lương, Tôn Đức Lượng, Nguyễn Văn Lý, Trần Viết Lý, Dương Hướng Minh, Đinh Minh, Nguyễn Văn Mười, Mai Văn Nam, Vũ Ngân, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trịnh Hữu Ngọc, Hoàng Lập Ngôn, Hoàng Tuấn Nhã, Lưu Công Nhân, Huỳnh Công Nhãn (Huỳnh Phương Đông), Duy Nhất (Lê Năng Hiển), Lương Xuân Nhị, Nguyễn Trọng Niết, Nguyễn Đức Nùng, Lê Phả, Bùi Xuân Phái, Thang Trần Phềnh, Thục Phi, Nguyễn Quang Phòng, Trịnh Phòng, Nguyễn Đình Phúc, Hồ Quảng, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Hùng Sanh, Nguyễn Sáng, Lưu Văn Sìn, Phạm Viết Song, Nam Sơn, Thân Trọng Sự, Phạm Thanh Tâm, Minh Tần, Hữu Thanh, Đào Thế, Phạm Xuân Thi, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Thiệp, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Thọ, Trần Đình Thọ, Phan Thông, Vũ Văn Thu, Huỳnh Văn Thuận, Nguyễn Thuận, Nguyễn Cao Thương, Huy Toàn, Hoàng Trầm, Trần Quang Trân, Vương Trình, Công Văn Trung, Nguyễn Văn Trường, Đinh Văn Trữ, Trần Mạnh Tuyên, Hoàng Tuyển, Nguyễn Văn Tỵ, Song Văn, Lê Vinh, Nguyễn Thế Vỵ, Văn Xương.

    Họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ thay mặt Chủ tịch đoàn đọc diễn văn khai mạc, nói lên tinh thần phục vụ, đoàn kết, hy sinh của những người làm công tác mỹ thuật, sự lớn mạnh của nền mỹ thuật Việt Nam trong 12 năm qua và tỏ lòng biết ơn của giới mỹ thuật Việt Nam đối với cách mạng, đối với Đảng. Họa sĩ Sỹ Ngọc đã đọc báo cáo về phong trào mỹ thuật Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Bản báo cáo nêu lên những chuyển biến của ngành mỹ thuật trong thời gian kháng chiến và sau ngày hòa bình lập lại, nói rõ vai trò tích cực của giới mỹ thuật Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng và tinh thần vượt khó khăn, chịu đựng gian khổ của anh chị em làm công tác mỹ thuật. Bản báo cáo đã nêu lên những thành công và thiếu sót của phong trào, đặt ra một số vấn đề liên quan đến sự phát triển mỹ thuật như việc xuất bản và phổ biến tranh, việc giữ gìn tác phẩm và viện Bảo tàng, việc phát triển nền nghệ thuật dân gian... Trên 20 nhà mỹ thuật đã phát biểu ý kiến trong Hội nghị. Hội nghị đã thảo luận và thông qua các bản Điều lệ Hội Mỹ thuật Việt Nam, chương trình công tác và chế độ công tác, sáng tác của giới mỹ thuật. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Hội gồm 21 người: Diệp Minh Châu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung, Trần Văn Lắm, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Thuận, Nguyễn Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Mai Văn Hiến, Nguyễn Trọng Hợp, Lương Xuân Nhị, Trần Đình Thọ, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Khang, Nguyễn Phan Chánh, Hoàng Kiệt, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Cao Thương, Nam Sơn và Lê Vinh.

    Sau Hội nghị thành lập Hội, Ban Chấp hành đã bầu họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ làm Tổng thư ký, Nguyễn Sỹ Ngọc làm Phó tổng thư ký và Ban Thường vụ gồm: Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sỹ Ngọc, Trần Văn Cẩn, Diệp Minh Châu, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Khang, Hoàng Kiệt. Sau đó một năm họa sĩ Trần Văn Cẩn đã được bầu làm Tổng thư ký (từ 1958 đến 1983); Phó tổng thư ký là các họa sĩ Phan Kế An (từ 1957 đến 1963), Nguyễn Sĩ Ngọc (từ 1957 đến 1958); Huỳnh Văn Thuận, nhà điêu khắc Trần Văn Lắm (từ 1958 đến 1983).

    Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Nghị định số 295/ND - DC ngày 8 tháng 4 năm 1957 cho phép Hội Mỹ thuật Việt Nam thành lập và hoạt động. Ban Bí thư TW cũng quyết định Đảng đoàn Hội Mỹ thuật Việt Nam gồm các đồng chí Huỳnh Văn Thuận - Bí thư; đồng chí Phan Kế An - Phó Bí thư; đồng chí Lê Quốc Lộc, Mai Văn Hiến, Trần Văn Lắm - Uỷ viên.

    Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa I (1957 - 1983), sau này được bổ sung đã lãnh đạo Hội 26 năm kể từ ngày đầu thành lập, qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 10 năm đầu thống nhất đất nước.

    Họa sĩ Trần Khánh Chương
    Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam

Share:         LinkHay.com