E-mail        Print        Font-size  
  • Sự khởi đầu của sơn mài Trung Quốc

    NGUYỄN GIA TRÍ - Giáng sinh (4)



    Trong một bữa tiệc với bạn bè ở trường Đại Học Thượng Hải, chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên trời, dưới đất, châu Á, châu Âu, Việt Nam, Trung Quốc… Rồi thì không nhớ rõ trong tình huống nào, anh bạn Jin Hui (1) đã buột miệng nói với tôi rằng: “Nguyen, Chinese lacquer painting is starting from Vietnam, you know?” Tôi tạm dịch là: “Nguyễn, bạn có biết không, tranh sơn mài Trung Quốc bắt nguồn từ Việt Nam đấy?” Lúc đó, uống khá nhiều rồi nên tôi không mấy để tâm. Giờ đây, ngồi nghĩ lại vừa thấy tự hào dân tộc, lại vừa thấy tò mò? Nhưng nếu chỉ nghe Jin Hui nói vậy thì thực sự là chưa đủ. Vậy nên tôi bắt đầu vào các thư viện đọc tìm sách báo, lên Internet tra cứu tài liệu… và xin được đưa ra một vài thông tin như sau:

    Từ sơn mài Việt Nam

    Như chúng ta đã biết, nền hội họa Việt Nam hiện đại được hình thành và phát triển bởi sự gặp gỡ của hai nhân vật Victor Tardieu (1870-1937), một họa sĩ người Pháp và Nam Sơn - Nguyễn Vạn Thọ (1890-1973), một họa sĩ Việt Nam. Kết quả của sự gặp gỡ đó là trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập năm 1925 do họa sĩ Victor Tardieu làm hiệu trưởng. Năm 1926, họa sĩ Joseph Inguimberty được bổ nhiệm làm trưởng khoa hội họa. Năm 1934, nhà trường cho xây dựng một xưởng chuyên nghiên cứu về “sơn ta” (lacquer) và lập ra bộ môn nghiên cứu kỹ thuật sơn ta áp dụng trong hội họa. Mục đích là định hướng cho sinh viên nghiên cứu, thực hành và sáng tác với chất liệu sơn ta, hình thành nền tảng cơ bản để phát triển kỹ năng và tư duy sáng tác cho tranh sơn mài.

    Giảng viên gồm có họa sĩ Joseph Inguimberty đã từng học tập, nghiên cứu tại Trường Mỹ thuật Marseille và trường Quốc gia Nghệ thuật trang trí Paris. Một giảng viên nữa là nữ họa sĩ Alix Aymé, bà là học trò của họa sĩ Maurice Denis (nhân vật tiêu biểu của trào lưu hội họa Nabism), bà đã từng sống và làm việc tại Thượng Hải, đã thử nghiệm và nghiên cứu tranh khắc gỗ, tranh “sơn” (lacquer) tại Nhật Bản. Kỹ thuật viên là nghệ nhân Đinh Văn Thành (phó Thiềng), một người bản xứ thành thạo kỹ thuật chế tác nghề sơn truyền thống của Việt Nam.


    Tác giả và Jin Hui tại Shanghai 2016 (2)

    Kể từ năm 1934, khi thành lập xưởng nghiên cứu kỹ thuật sơn ta cho đến nay, nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm nghiên cứu tìm tòi và phát triển. Vượt qua nhiều khó khăn và thách thức, có lúc còn bị gián đoạn, hội họa sơn mài đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận.

    Trước nhất, chúng ta nói đến sự cống hiến tâm sức cho sơn mài của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993). Ông là người có công lớn nhất trong việc đưa kỹ thuật sơn mài vào sáng tác hội họa ở Việt Nam. Những tác phẩm của ông là chuẩn mực của kỹ thuật và nghệ thuật sáng tác tranh sơn mài.

    Một tên tuổi lớn nữa là Nguyễn Sáng (1923-1988), một họa sĩ có năng lực hình họa kinh điển với kỹ thuật sơn mài điêu luyện. Những tác phẩm của ông là sự kết hợp giữa phong cách tạo hình dân gian với tinh thần xã hội hiện đại. Tranh sơn mài của Nguyễn Sáng đã trở thành những bài học căn bản của hội họa sơn mài và là tiền đề cho mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

    Nguyễn Tư Nghiêm (1922-2016), người có vốn kiến thức triết học sâu rộng và đời sống nghệ thuật đầy thăng trầm. Tác phẩm của ông là sự kết hợp giữa cấu trúc không gian lập thể của hội họa phương Tây với lý thuyết màu sắc của triết học phương Đông, đã đem lại cho sơn mài Việt Nam một tinh thần mới, một giá trị mới và một truyền thống mới.


    ALIX AYMÉ - Kỷ niệm Đông Dương (3)

    Trên đây là một vài ví dụ cho chúng ta thấy những giá trị nghệ thuật mà các họa sĩ đã đạt được bằng chất liệu sơn mài. Vẫn còn rất nhiều những giá trị nữa, rất nhiều những họa sĩ sử dụng sơn mài để vẽ nữa, chúng tôi không thể kể hết ra đây được. Nhưng một điều chắc chắn là sơn mài đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của hội họa Việt Nam hiện đại. Và hy vọng nó còn phát triển để có thể trở thành “Quốc họa” của Việt Nam.

    Đến tranh sơn mài Trung Quốc

    Trở lại câu chuyện nguồn gốc của tranh sơn mài Trung Quốc. Theo như kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, đồ gia dụng phủ “sơn” (lacquer) đã được những người thợ thủ công Trung Quốc chế tác vào khoảng 1600-1046 trước Công nguyên. Nhưng mãi cho tới khoảng năm 1970 của thế kỷ XX, tranh sơn mài mới bắt đầu được nghiên cứu và sáng tác tại Trung Quốc. Đó là một câu chuyện dài về nghệ thuật, chúng tôi xin được chia sẻ cùng với bạn đọc.

    Năm 1962, nhận lời mời của Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chỉ đạo Bộ Văn hóa Thông tin phối hợp với Hội Mỹ thuật Việt Nam, tổ chức một sự kiện văn hóa quan trọng, nằm trong chương trình hoạt động ngoại giao giữa hai nước, đó là triển lãm “Nghệ thuật Sơn mài Việt Nam”. Triển lãm có quy mô khá lớn với khoảng hơn 50 tác phẩm của các tác giả là thành viên của Hội Mỹ thuật (miền Bắc) Việt Nam. Các họa sĩ Việt Nam đã đem tác phẩm của mình trưng bày tại hai thành phố lớn bậc nhất của Trung Quốc là thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải. Những tác phẩm trong triển lãm như Mùa thu đan áo của Trần Văn Cẩn, Tổ đổi công miền núi của Hoàng Tích Chù, “Kéo pháo” của Dương Hướng Minh… đã gây ngạc nhiên cho công chúng và giới chuyên môn Trung Quốc. Trong buổi lễ khai mạc trang trọng và thân mật, trước sự chứng kiến của đông đảo công chúng, lãnh đạo và nghệ sĩ hai nước, Thủ tướng Trung Quốc Chu Âu Lai đã vô cùng ngưỡng mộ những kiệt tác sơn mài của các họa sĩ Việt Nam. Ông đã có lời phát biểu như một định hướng cho sự phát triển của nghệ thuật Trung Quốc. Tôi tạm dịch như sau: “Hội họa Sơn mài Việt Nam phát triển thật là tuyệt vời, chúng ta nên cử người sang đó để học hỏi.”


    CAI KE CHAN - Kwai Heung (6)

    Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Văn hóa đã quyết định tuyển chọn họa sĩ trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Hai họa sĩ là Zhu Ji thuộc Học viện Nghệ thuật Trung ương Bắc Kinh và Cai Ke Zhen (1931) thuộc Học viện Mỹ thuật Quảng Châu đã trúng tuyển. Họ đã học tiếng Việt một năm tại Bắc Kinh trước khi đến Việt Nam học tập và nghiên cứu về tranh sơn mài. Zhu Ji và Cai Ke Zhen đã lên đường đến trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội vào năm 1963. Nhưng không may họa sĩ Zhu Ji bị bệnh và trở về nước sau khoảng nửa năm, chỉ còn họa sĩ Cai Ke Zhen ở lại tiếp tục học tập và nghiên cứu về tranh sơn mài Việt Nam. Với tinh thần chịu khó học hỏi, lại được sự hướng dẫn, truyền dạy tận tình của những người thầy Việt Nam, chỉ trong khoảng hơn ba năm, Cai Ke Zhen đã cơ bản nắm được đầy đủ và sâu sắc về kỹ thuật và nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam.

    Năm 1966, kết thúc công việc học tập, Cai Ke Zhen đã rời Việt Nam trở về Quảng Châu. Nhưng cũng trong năm đó, một biến cố chính trị lớn đã xảy ra trên toàn đất nước Trung Quốc, đó là cuộc “Đại cách mạng văn hóa”. Cai Ke Zhen đã trở thành nạn nhân, cũng như bao văn nghệ sĩ, trí thức khác, ông đã phải đi lao động 4 năm tại Tam Thủy và giấc mộng “tranh sơn mài” phải tạm gác lại.

    Năm 1970, Cai Ke Zhen được phân công về giảng dạy tại Học viện Mỹ thuật Quảng Châu. Tại đây, với sự ủng hộ của bạn bè và đồng nghiệp, xưởng sơn mài của Cai Ke Zhen đã được thành lập và những bức tranh sơn mài đầu tiên của Trung Quốc ra đời chính tại nơi này.


    JIN HUI - Sky Line(7)

    Từ đó tới nay, xưởng sơn mài của thầy Cai Ke Zhen đã cho ra đời nhiều họa sĩ kiệt xuất cùng nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, làm phong phú cho nghệ thuật “sơn” (lacquer) Trung Quốc. Thêm nữa, thành tựu mà họ đã đạt được có ý nghĩa hết sức quan trọng với nghệ thuật Trung Quốc. Cuộc triển lãm “Nghệ thuật sơn mài Trung Quốc” lần thứ nhất diễn ra tại thủ đô Bắc Kinh năm 1986 với khoảng 500 tác phẩm được trưng bày, đánh dấu cho sự thành công của các nghệ sĩ Trung Quốc khi sáng tác bằng chất liệu sơn. Từ đó, “sơn mài Trung Quốc” đã trở thành một chất liệu nghệ thuật độc lập trong các triển lãm quốc gia và quốc tế.

    Lời kết

    Ý muốn của lịch sử đã tạo ra tranh sơn mài cho Việt Nam. Đó là thành quả của sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Pháp và Việt. Có lẽ, nghệ thuật sơn mài của Trung Quốc cũng không ngoại lệ, nó được khởi đầu từ một gợi ý của “Tranh sơn mài Việt Nam”. Đó là một thực tế không thể phủ nhận và là hệ quả của sự tiếp biến văn hóa Việt - Trung. Thêm nữa, quá trình phát triển của “sơn” (lacquer) trở thành “sơn mài”, một chất liệu cho hội họa. Đến nay “sơn mài” đã trở thành một khái niệm mới của mỹ thuật trên bản đồ nghệ thuật thế giới và khái niệm đó đã và đang được khẳng định bởi chính những tác phẩm của các nghệ sĩ Việt Nam và Trung Quốc…

    Trong điều kiện của bài viết này tôi chỉ có thể nêu ra một vài hiểu biết ít ỏi của cá nhân mình về sơn mài. Có lẽ, chưa thể làm thỏa mãn bạn đọc, xin được hẹn lại ở một chuyên khảo sâu hơn.

    Nguyễn Minh Quang

    Chú thích:

    (1) Giáo sư, Họa sĩ, Giám đốc xưởng sơn mài – Học viện Mỹ thuật Thượng Hải

    (2) Nguồn : Jin Hui

    (3) Nguồn : figurationfeminine.blogspot.com

    (4) Nguồn : tuoitre.vn

    (5) Nguồn : 1994-2015 China Academic Jounal Electronic Publishing House

    (6), (7) Nguồn : Jin Hui

Share:         LinkHay.com