E-mail        Print        Font-size  
  • Nhị thập tứ hiếu- Tích xưa trên gốm cổ




    LTS: "Nhị thập tứ hiếu" là một tác phẩm trong văn học Trung Hoa kể lại sự tích của 21 tấm gương hiếu thảo do tác giả Quách Cư Nghiệp thời Nguyên. Sau này, Lý Văn Phức đã dịch "Nhị thập tứ hiếu" ra thơ Quốc âm để dạy bảo con, cháu và lưu lại cho hậu thế noi gương người xưa. Lý Văn Phức (1785-1849) tự Lân Chi, hiệu Khắc Trai, người làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội (nay thuộc cụm dân cư số 1 và số 2 phường Bưởi, quận Tây Hồ). Ông sinh năm Ất Tỵ (1785), đỗ cử nhân khoa Kỷ Mão triều Gia Long thứ 18 (1819), làm quan qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Lý Văn Phức được biết đến là người con rất hiếu thảo.  

    Trong các thú chơi của người xưa thì nghề chơi nào cũng lắm công phu. Tuy nhiên, thú chơi được coi coi là tao nhã hơn cả có “tứ ngoạn”, “tứ thưởng”, gồm có: “Nhất chữ, nhị tranh, tam sành, tứ cảnh” (Thứ nhất chơi chữ; thứ nhì chơi tranh; thứ ba chơi đồ sành, sứ; thứ tư chơi cây ảnh). Tuy nhiên, việc thưởng ngoạn những thú tao nhã này không chỉ nhằm “mua vui một vài trống canh” mà mục đích chính cổ nhân muốn hướng tới là dưỡng tâm, dưỡng tính, dưỡng thần - “Cổ vật dưỡng tâm, cảnh vật dưỡng thần”. Vì thế, cảnh họa, hình họa trên cổ vật bao giờ cũng mang ý nghĩa giáo dục, truyền tải tính nhân văn sâu sắc. Trên đĩa trà thuộc dòng sứ đặt kiểu của triều đại phong kiến Việt Nam thời Trịnh – Nguyễn mà chúng tôi giới thiệu dưới đây cũng mang ý nghĩa đó.

    Nhân vật được vẽ trên chiếc đĩa trà này là một trong hai mươi bốn người con hiếu thảo (nhị thập tứ hiếu) được lưu truyền qua Tác phẩm Nhị thập tứ hiếu . Đó là Hán Khương Thi và người vợ là Bàng thị. Câu chuyện được kể như sau:

    Khương Thi, sinh vào đời nhà Hán, có vợ là Bàng thị, hai vợ chồng đều rất hiếu thảo với mẹ. Mẹ chồng muốn uống nước sông, Bàng thị hằng ngày đi gánh nước sông ở thật xa đem về để dành cho mẹ dùng. Mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, Khương Thi không ngại giá rét, đi bắt cá đem về làm gỏi dâng lên mẹ. Thấy mẹ ở nhà một mình, sợ mẹ buồn, nên thường nhờ các bà già trong xóm đến chơi chuyện trò với mẹ cho vui tuổi già. Về sau, bên cạnh nhà, tự nhiên sinh ra một dòng suối ngọt, nước suối có mùi vị y như nước sông và hằng ngày lại có hai con cá chép từ suối nhảy ra, Khương Thi bắt được, đủ làm gỏi dâng lên mẹ dùng, còn Bàng thị khỏi đi gánh nước sông ở xa nữa.

    Người ta cho rằng, lòng hiếu thảo của vợ chồng Khương Thi đã làm cảm động lòng trời nên trời đã làm ra suối và cá như thế. Có thơ rằng:

    Hán Khương Thi nhà còn lão mẫu,

    Vợ họ Bàng vẹn đạo chữ tòng.

    Mẹ thường muốn uống nước sông,

    Vợ từng đi gánh thay chồng hầu cô.

    Mẹ thường muốn ăn đồ gỏi cá,

    Vợ chồng đều tầm tá đủ mùi.

    Lại mời lân mẫu sang chơi,

    Để bồi cùng mẹ cho vui bạn già.

    Bên nhà bỗng chảy ra suối ngọt,

    Với nước sông in một mùi ngon.

    Lý ngư ngày nhảy hai con,

    Đủ trong cung cấp thần hôn thường lề.

    Rày thong thả bỏ khi lận đận,

    Cam thỏa lòng dâu thuận con hiền.

    Cho hay gia đạo khi nên,

    Đã con hiếu lại được hiền cả dâu.

    Đây là chiếc đĩa trà thuộc dòng “Thanh bạch từ khí” được triều đình phong kiến Việt Nam đặt về để dùng trong triều, phủ. Vì thế, nó thuộc đồ quan dụng, đường kích khá lớn 19cm và thuộc đề tài vẽ tích hiếm gặp. Để chế tác nên một chiếc đĩa trà tinh xảo như thế này thì người thợ phải có tay nghề cao được thể hiện qua tất cả các công đoạn:

    - Về cốt đất (thai thổ) đất được tinh luyện rất kỹ, sạch không lẫn tạp chất nên sản phẩm có xương, cốt trắng tinh không lộ tạp màu.

    - Về tạo hình (thai thể) chiếc đĩa cốt không dày nhưng cứng cáp, tinh xảo, tiếng kêu trong sáng, điều này chứng tỏ người thợ đã rất công phu trong tạo tác.

    - Men phủ bên ngoài trong suốt làm nổi bật hoa văn màu xanh trang trí bên dưới nhưng không tạo ra sự chói lóa như đồ sứ mới.

    - Màu men xanh cobalt được người họa sĩ vận dụng tối đa sự đậm nhạt của màu men để tạo nên nhiều sắc thái mới, tươi đẹp hơn cho sản phẩm. Như người họa sĩ thể hiện được âm - dương, sáng - tối rất điêu luyện, vẽ nhân vật có thần thái, linh động tự nhiên, cảnh sắc sinh động, cảnh trời đất bao la, hùng vĩ...

    Tuy nhiên, điều đặc sắc ở đây chính là người họa sĩ đã thể hiện lối vẽ dung hòa giữa hai kiểu công bút và ý bút, cảnh vật xung quanh. Tạo hình hai vợ chồng Hán Khương Thi thì dùng công bút tỉa tót rất kỹ, chi tiết, tỉ mỉ, nhưng đến khi thể hiện tâm tư, trạng thái của nhân vật lại được người họa sĩ khắc họa qua ý bút đậm chất Á Đông. Bên cạnh đó, tính Âm - Dương theo quan niệm triết học Trung Hoa được thể hiện cũng rất rõ qua bức tranh khi đặc tả một tĩnh, một động; một thấp, một cao; một nam, một nữ; một cây tốt tươi, một cây khô gầy – tạo thành đồng nhất thể. Tác giả đã khắc họa bên cạnh dòng suối có một tảng đá giả sơn để nhằm truyền tải triết lý “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy” (Bậc trí vui chơi sông nước, bậc nhân vui chơi núi non). Dòng suối cũng biểu hiện bản thể của đạo, trôi chảy bất tận không ngừng nghỉ. Con cá thể hiện cho sự no ấm, đầy đủ “Niên niên hữu dư”...

    Thông qua đó, người họa sĩ đã lột tả được tính hiếu thuận của vợ chồng Hán Khương Thi, qua hình ảnh khi bắt được con cá, anh chồng vui sướng nhảy nhót, tựa hồ như đứa trẻ nhận được món quà yêu thích, chị vợ thì quỳ xuống như đón từng vốc nước, mừng rỡ mà cảm ơn trời đất. Như thế, người họa sĩ không chỉ vẽ lên cảnh đẹp của đất trời, của thiên nhiên, của hình ảnh con người mà dưới nét bút tài hoa, họ đã vẽ lên cả một thông điệp về cái đẹp trong lòng người, cái đẹp của lòng hiếu thuận giữa bao la trời đất trên một đĩa trà, qua hàng trăm năm vẫn không hoen ố bởi bất cứ vết bụi trần nào!

    Nhã Khai


Share:         LinkHay.com