E-mail        Print        Font-size  
  • Về các hoạ sĩ Truờng Mỹ thuật Việt Nam Khoá kháng chiến


    Nhân đọc sách "Họa sĩ Khóa kháng chiến", NXB Mỹ thuật 2017

     

    Đó là Khóa mỹ thuật kháng chiến chống Pháp do Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký thành lập trường với tên gọi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương, do Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, gồm 22 học viên mới tuyển trong hai kỳ thi và một số sinh viên cũ của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương về làm bài thi tốt nghiệp hoặc học tiếp chương trình Cao đẳng Đông Dương. Thực ra khóa đầu của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám nhưng chỉ học được mấy tháng thì toàn quốc kháng chiến, do vậy Khóa mỹ thuật kháng chiến được coi như khóa đầu của Trường Mỹ thuật Việt Nam, của nền dân chủ cộng hòa. Từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương lại chuyển xuống Trường Mỹ thuật Việt Nam. Vì Trường Âm nhạc bị giải tán và Trường Mỹ thuật cũng trong tình trạng cần phải giải thể, khó tiếp tục duy trì do kinh phí nhà nước lúc đó thật khó khăn, để trường tồn tại, Tô Ngọc Vân đã phải vét vàng của gia đình để nuôi trường, nuôi văn phòng và nuôi sinh viên. Trường Mỹ thuật thực chất chuyển thành trường trung cấp học qua các năm 1950 - 1951 -1952 và 1953 đến đầu năm 1954 thì ra trường và tốt nghiệp. Trong quá trình học tập có người vì lý lịch, hoặc chuyên môn yếu hoặc được biệt phái đi công tác nên phải bỏ dở học tập. Nữ họa sĩ Trịnh Kim Vinh theo tôi được biết có được học khóa này nhưng chỉ trong mấy tháng và sau được gợi ý sang Trung Quốc học tại Khu học xá Nam Ninh ngành giáo dục sư phạm. Bà không hề học tiếp tại trường đến khi tốt nghiệp và bà đã tốt nghiệp trường trung cấp mỹ thuật khóa 1959 - 1962 cùng với tôi. Vì vậy, Trịnh Kim Vinh không nên có tên trong số các họa sĩ Khóa kháng chiến.


    LƯU CÔNG NHÂN - Xương rồng. 1966 - Màu nước. 25x33cm
    Sưu tập của ông Nguyễn Phúc Hưởng, TP. Hồ Chí Minh

    Trường Mỹ thuật Việt Nam Khóa kháng chiến dù cho đến ngày hôm nay người mất người còn, nhưng các học sinh cũ của trường đều đã trở thành những họa sĩ có tên tuổi đóng góp rất nhiều công sức cho nền mỹ thuật Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Hoàn (vợ Tô Ngọc Vân) lúc ấy dưới bom đạn và giây thép gai của địch đã cố vào tận Hà Nội để vay vàng của họ hàng đem ra kháng chiến duy trì hoạt động của trường. Đến năm 1960 những người họ hàng đến đòi nợ. Bà Hoàn vì ông Vân mất, phải nuôi năm người con và mẹ ông Vân 90 tuổi, không có vàng trả, bị chủ nợ chửi bới và đẩy ngã trên sàn gạch gãy hết cả hàm răng.

    Lưu Công Nhân là một học viên có học lực cao nhất. Tô Ngọc Vân rất yêu mến anh và từng nói với Nguyễn Tư Nghiêm: “Đốt đuốc mới đi tìm được một Lưu Công Nhân”. Anh thành đạt về tranh màu nước, vẽ trực họa rất điêu luyện. Màu của anh rất ngon, nhuyễn và đầy gợi cảm, có nhiều chất của hội họa. Tô Ngọc Vân có viết trong nhật ký: “Lưu Công Nhân là tuổi trẻ của ta hiện về”... Anh có duyên với màu và cách vẽ của anh thật thông minh và tài hoa, tiếp thu những gì tinh túy nhất của thế giới. Cuối đời Lưu Công Nhân lại trở về cội nguồn phương Đông với những tranh thủy mặc và nét bút cũng như cách vẽ chứng tỏ Lưu Công Nhân là một họa sĩ bậc thầy.



    LÊ HUY HÒA - Khát vọng. 1995. Sơn mài. 80x60cm
    Sưu tập Minh Đạo, Hà Nội.



    TRỌNG KIỆM - Chân dung họa sĩ Mai Long. 1964
    Sơn dầu. 70x50cm. Sưu tập của họa sĩ Mai Long.

    Trọng Kiệm là một họa sĩ, là một học trò yêu của Tô Ngọc Vân. Anh là một học viên xuất sắc về hình họa. Trong lớp không ai địch nổi anh về vẽ hình. Anh thành đạt ở những tác phẩm lớn, kể cả đề tài lịch sử. Mới 30 tuổi mà nhiều tác phẩm lớn đã ra đời. Anh chịu ảnh hưởng của Van Gogh, Cézanne, Picasso, rồi cuối cùng là trống đồng Ngọc Lũ. Với Trọng Kiệm, những năm còn trẻ, những tranh bột màu của anh đã đạt tới trình độ bậc thầy. Những tranh lụa, sơn mài lúc đó là những đỉnh cao của nghệ thuật Việt Nam: Ghé thăm nhà, hay Quán bên đường. Một họa sĩ tài năng lớn, mặc dù cuộc sống còn quá đạm bạc. Vợ con anh và anh cũng đã phải chịu đựng hy sinh quá nhiều cho nghệ thuật đích thực và cao cả. Nói Trọng Kiệm học thức thấp nhất khóa (như trong sách) là không nên và không công bằng, mà cũng không đúng, vì học thức không phải bao giờ cũng quyết định tài năng của một nghệ sĩ.

    Trần Lưu Hậu mải mê với những mảng màu mạnh mẽ, những màu sắc rực rỡ. Anh may mắn còn sống đến ngày hôm nay, đã 90 tuổi rồi. Sức sáng tạo của anh vẫn còn nhiều năng lượng lắm. Bút lực rất dồi dào. Anh đi sâu vào trừu tượng biểu hiện, là một họa sĩ danh tiếng và bậc thầy của nền hội họa Việt Nam hiện đại hiện nay.

    Lê Lam lại thiên về nghệ thuật hiện thực tả chân. Anh chủ yếu sâu về hình họa và chất của sự vật mô tả. Anh thành công nhiều trong đồ họa, nhất là những ký họa thuốc nước và tranh khắc gỗ, những tranh chân dung công phu với những chi tiết cảm động, đó cũng là cái tình của anh với cuộc sống. Là một họa sĩ bậc thầy về đồ họa và đề tài cách mạng và lịch sử.


    NGÔ MẠNH LÂN - Nông thôn. Sơn dầu. 35x27cm
    Sưu tập của gia đình họa sĩ.




    TRẦN LƯU HẬU - Tĩnh vật. 1986. Bột màu. 50x55cm

    Lê Huy Hòa luôn sục sạo với những mảng màu ghi trong những đường viền to đen. Có lẽ anh thành đạt nhiều trong sơn mài (mặc dù sơn mài anh chỉ làm chơi). Sơn dầu của Lê Huy Hòa có cái hoang sơ của kẻ cuồng tín, nhưng lại có cái xa lạ của kẻ ngông cuồng, anh dụng tâm một sắc thái siêu thực và cố công đi tìm tính hiện đại cho tác phẩm của mình.

    Mai Long lại ngược lại với Lê Huy hòa, anh chăm chút sự thật đến tận cùng của nó. Hiện thực trên cả hiện thực. Mai Long hôm nay vẫn là một họa sẽ vẽ tranh lụa miền núi bậc thầy, có một phong cách riêng khác hẳn Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Thụ, Trần Đông Lương và Linh Chi. Tranh lụa Mai Long rất ít màu, có phong cách nhìn tẩu mã của nghệ thuật phương Đông. Không gian nhòe, hình rất cẩn thận và chu đáo.

    Linh Chi nổi tiếng với những tranh lụa vẽ chân dung các cô gái dân tộc Mường. Rất ít màu, màu tối, trung gian gần với trang trí. Nền bao giờ cũng là một mặt phẳng. Không gian theo lối trang trí ẩn dụ. Một phong cách giản dị. Kết hợp giữa phương Tây và phương Đông một cách đơn giản và dễ hiểu.

    Trần Đông Lương để cả cuộc đời phụng sự cho cái đẹp của các cô gái Hà thành. Anh cũng từng vẽ bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Nhưng tranh lụa thiếu nữ của anh mới thực sự là Trần Đông Lương. Anh chi chút từng ly một vẻ kiều diễm, sang trọng và những đường cong của người thiếu nữ bằng những nét nhẹ nhàng, êm ái, vuốt ve, âu yếm. Tranh anh chủ yếu có màu trắng ghi xanh, hoặc ghi hồng, kỹ xảo thật bậc thầy, ít ai bắt chước được.


    MAI LONG - Một sớm mờ sương. Lụa. 100x80cm
    Sưu tập Minh Đạo, Hà Nội

     


    TRẦN ĐÔNG LƯƠNG - Tổ thêu. 1958. Lụa. 55,5x88cm. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

    Thế Vỵ, Thục Phi, Đặng Đức, Đào Đức, Ngô Mạnh Lân, Ngô Tôn Đệ, Lê Nguyên Lợi, Ngọc Linh, Trịnh Phòng, Trịnh Thiệp, Duy Tá, Ngô Minh Cầu, Thu Dung... mỗi người mỗi vẻ đẹp trong tác phẩm, mỗi họa sĩ khác nhau làm nên diện mạo muôn sắc màu của Trường Mỹ thuật Việt nam Khóa kháng chiến.

    Các họa sĩ Khóa kháng chiến người ít tuổi nhất năm nay cũng đã 84. Nhiều người đã ra đi, nhưng cuộc đời của họ vẫn còn lưu lại mãi trên những tác phẩm.

    Đọc cuốn “Họa sĩ Khóa kháng chiến” tôi không thấy thỏa mãn. Ngoài một số chi tiết chưa chính xác, chưa thấu tình đạt lý như tạm nêu ở phần trên, tiêu đề đặt riêng cho từng họa sĩ cũng chưa phù hợp, dễ gây hiểu nhầm cho người đọc về các họa sĩ. Tác phẩm chọn in còn dễ dãi, tùy tiện.

    Tôi sẽ phải làm một quyển sách về các anh họa sĩ Trường Mỹ thuật Khóa kháng chiến do Tô Ngọc Vân là thầy dạy trực tiếp, vì các anh là những họa sĩ mà thầy Vân rất yêu thương và trân trọng (do tôi viết và tuyển chọn tác phẩm).

    Tô Ngọc Thành

Share:         LinkHay.com