E-mail        Print        Font-size  
  • Rối nước truyền thống - Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam

    Thủy đình tại chùa Thầy

    1. Đặt vấn đề

    Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có múa rối.Hiện nay, trên thế giới có một số loại hình rối phổ biến sau:

    -Rối tay (Hand puppets/Glove puppets): Loại rối này hình thành sớm nhất ở Trung Đông và khu vực Nam Mỹ với mục đích tôn giáo. Vật liệu làm ban đầu của con rối là từ da, vải sợi, giấy. Loại rối này cũng hình thành và phát triển mạnh ở nhiều nước châu Âu, ở Châu Á thì có Trung Quốc. Ngày nay, rối tay phổ biến và được ưa chuộng ở khắp các quốc gia trên thế giới.

    -Rối que/rối gậy (Rod puppets): Hình thành sớm nhất ở Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc.

    -Rối dây (String puppets / marionette): Loại rối dây được tìm thấy ở Hy Lạp, Ai Cập và Ấn Độ hơn 2000 năm trước, Ở Lưỡng Hà, Trung Quốc cũng tìm thấy các loại rối dây có niên đại từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.

    -Rối bóng (Shadow puppets): Rối bóng có lịch sử hình thành lâu đời, ra đời và phát triển mạnh ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á như Indoneisa, Malaysia, Thái Lan, Campuchia. Rối bóng cũng hình thành từ rất sớm ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nepal. Ở Châu Âu thì có: Anh, Pháp, Đức, Ở Trung Đông: Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập cũng tự hào là quốc gia có rối bóng truyền thống.

    - Rối “nói” hình nộm (ventriloquist dummy), loại rối đượctrình bày với diễn viên nói tiếng nói như từ một nơi xa. Loại rối này hình thành sớm tại một số nước châu Âu. Ở Nhật Bản có loại hình rối này, tên gọi là Bunraku, để điều khiển được một con rối chính của Nhật thì cần có ba nghệ sĩ điều khiển cho các bộ phận con rối: tay phải, tay trái, chân phải, chân trái, đầu, mắt, miệng.



    Các nghệ nhân phường rối nước Thanh Hải, Hải Dương biểu diễn tích trò “Múa Tiên – Hát văn”

    -Rối nước (Water puppets). Múa rối nước là nghệ thuật diễn xướng dân gian đặc sắc, là loại hình nghệ thuật độc đáo chỉ có ở Việt Nam và là niềm tự hào của dân tộc Việt.

    Trong lịch sử hình thành và phát triển của rối nước dân gian, các phường rối nước lúc phát triển thịnh vượng, lúc lại suy tàn nhưng đến nay, nghệ thuật múa rối Việt Nam đã đạt đến trình độ nghệ thuật có gia trị cao về tinh thần, là một trong những loại hình sân khấu giải trí hấp dẫn trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam, thu hút sự quan tâm của nhiều khán giả và các nhà nghiên cứu.

    Múa rối nước có lịch sử hình thành từ rất lâu đời, phát triển mạnh vào thời Lý – Trần (thế kỷ XI – XII). Lịch sử đã cho thấy, nghệ thuật rối nước được hình thành chủ yếu ở khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của nền văn minh cổ của dân tộc Việt Nam, là khu vực với nhiều sông, ngòi, hồ, ao, gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của cư dân trồng lúa nước.

    Hoạt động của múa rối nước dân gian Việt Nam gắn với tín ngưỡng làng xã, để lễ bái thờ cúng thần linh và vừa để góp vui trong những dịp Lễ, hội làng, ngày vui hay những ngày Tết. Múa rối nước được hình thành từ tâm tư, tình cảm của người dân lao động, các tích trò rối nước ngắn gọn, phản ánh một cách ước lệ nhưng chân thực cuộc sống lao động sản xuất, thường miêu tả cuộc sống thường nhật ở làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, tái hiện niềm vui trong lao động, trong cuộc sống tình cảm lứa đôi, gia đình. Chúng ta thấy rất rõ sự gần gũi của rối nước với những người dân lam lũ qua các tích trò như: “Nhà nông cày cấy”, “vỡ nước”, “dệt cửi”, “câu ếch”, “cáo bắt vịt”, “bắt cá”, “cá bơi cá lội”, “xay thóc giã gạo”, “em bé chăn trâu”…, các hoạt động hội hè, vui chơi, giải trí rất đỗi dung dị cũng được thể hiện trong các tích trò: “rước thần”, “hát chèo”, “hát tuồng”, “đánh đu”, “đua thuyền”, “thi bơi”, “đấu vật”, “đua ngựa”,… Các con vật linh thiêng như kim quy, phượng, rồng, lân trong “múa tứ linh”, “múa phượng”, “múa rồng”, “múa lân”… cũng xuất hiện trong tích trò của rối nước, thể hiện cho ước vọng của người dân mong mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ, bình yên, tất cả đều được thu lại và đặc tả sinh động trong một sân khấu nhỏ bé.

    2. Đặc trưng về cách thức diễn rối nước

    Sử dụng mặt nước làm sâu khấu cho quân rối hoạt động là đặc điểm độc đáo của nghệ thuật rối nước. Sân khấu rối nước không cần đến đèn nến lung linh mà tân dụng ngay tính chất của nước là lỏng và phản quangvới ánh sáng lấp lánh của trời mây thay đổi trong từng thời điểm đã tạo nên một sân khấu tuyệt đẹp. Nước tạo môi trường, tạo khung cảnh, hỗ trợ người nghệ nhân điều khiển các quân rối dây, rối sào một cách nhuần nhuyễn lúc ẩn, lúc hiện trong làn nước, nhờ tính chất lỏng của nước đã làm các quân rối uyển chuyển hơn, mềm mại hơn, sinh động hơn. Nghệ thuật múa rối là sự tương tác thú vị của các quân rối với người biểu diễn rối. Trên sàn diễn – mặt nước, các diễn viên là các quân rối (có nơi gọi là con rối hay con trò) chuyển động kết hợp với tiếng trống, tiếng mõ, tiếng tù và, chen pháo thăng thiên, pháo mở cờ, cùng với lời ca và âm nhạc dân gian đã tạo ra những màn biểu diễn lôi cuốn người xem. Âm nhạc và lời thoại là những công cụ nghệ thuật đắc lực trong việc thể hiện tâm tư, tình cảm của những quân rối hướng tới người xem.


    Các nghệ nhân phường rối nước Thanh Hải, Hải Dương biểu diễn tích trò “Sự tích Hồ Gươm”

    3. Đặc trưng về giá trị xã hội của các quân rối và tích trò truyền thống

    Các quân rối ngộ nghĩnh và các tích trò tuy không dài nhưng cuốn hút người xem về với những hoạt cảnh thân quen và cho người xem làm quen với các tác phẩm văn học, với nghệ thuật dân gian. Quân rối nước và không gian biểu diễn rối chứa đựng trong đó tình cảm, tình yêu của người nghệ nhân đối với thiên nhiên, với đời sống xã hội và với quê hương- đất nước. Các quân rối và các tích trò phản ánh những giá trị xã hội, những đặc trưng nghề nghiệp, mối quan tâm, niềm đam mê, những kỹ năng và kinh nghiệm nghệ thuật đã được đúc kết từ hoàn cảnh, xã hội nơi nó đã được sinh ra. Bởi vậy, rối nước luôn mang lại những xúc cảm, tình cảm tích cực, giúp con người có thể tiếp thu những chuẩn mực đạo đức-thẩm mỹ trong xã hội, học cách giao tiếp, ứng xử có văn hóa.

    Người nghệ nhân dân gian với óc thẩm mỹ, sự cảm thụ nghệ thuật và khả năng sáng tạo đã biến rối nước thành cầu nối giữa đại chúng với với di sản văn hóa dân tộc. Quân rối tuy thô mộc nhưng lôi cuốn người xem, mang lại những những xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ và hình thành thái độ thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ.

    Các quân rối và các tích trò rối nước truyền thống là kết quả của quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ nhưng đầy cảm hứng của các nghệ nhân dân gian.

    4. Các phường rối nước hiện nay và quy trình tạo tác quân rối

    Mỗi tích trò, mỗi quân rối đều thể hiện trí tuệ, sự thông minh và sức sáng tạo của con người Việt Nam. Người điều khiển rối và tạo hình quân rối là các nghệ nhân nghiệp dư, họ chính là những người nông dân, thợ thủ công lúc nhàn rỗi thì họ tham gia sinh hoạt nghệ thuật.Chính những người nông dân, thợ thủ công đam mê nghệ thuật ấy đã hội tụ với nhau tạo thành các phường rối dân gian.Theo tài liệu “Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Hồng xuất bản năm 1974, toàn miền Bắc có 28 phường múa rối nước dân gian. Tuy nhiên, theo điều tra và nghiên cứu Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đến năm 2000 thì miền Bắc chỉ còn lại 14 phường rối, tập trung ở các tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ. Hiện nay, cả nước có 18 phường rối nghiệp dư và 5 Nhà hát, đoàn múa rối chuyên nghiệp: Nhà hát Múa rối Việt Nam (TP. Hà Nội), Nhà hát Múa rối Thăng Long (TP. Hà Nội), Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng (Hải Phòng), Nhà nhát múa rối cố đô Huế (TP.Huế), Nhà hát múa rối nước Rồng Vàng (TP. Hồ Chí Minh). Trước kia, từng phường rối đều có các nghệ nhân tạo tác các quân rối nước riêng. Quy trình chế tác quân rối nước truyền thống không đơn giản như chế tạo một đồ thủ công thông thường mà việc tạo hình con rối nước phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp đòi hỏi sự công phu và khéo léo. Cụ thể có các bước sau:

    - Lựa chọn gỗ (thường là gỗ sung do tính chất của gỗ nhẹ, dai thớ), cắt gỗ, tạo hình thô quân rối, tùy từng nhân vật sẽ tạo hình thô theo đặc trưng nhân vật.

    - Đo đạc, tính bố cục và tỷ lệ giữa các bộ phận của quân rối theo đặc trưng nhân vật rối, từ đó làm vanh gỗ thành một khối thô mộc. Một khối rối nước thường có ba phần chính là: đầu, mình và chân.

    - Đục đẽo, tạo dáng cho quân rối, đây là giai đoạn quan trọng và thể hiện rõ nhất kỹ thuật, tình cảm, của người nghệ nhân để hình thành “cái hồn” cho quân rối.

    - Trau chuốt, làm sạch, làm mịn bề mặt quân rối





    Nghệ nhân phường rối nước Thanh Hải, Hải Dương hướng dẫn trẻ mầm non điều khiển rối nước

    - Làm vóc cho quân rối bằng cách hòa đất sét với sơn ta rồi quết lên toàn bộ quân rối vài lượt để đảm bảo quân rối chắc, khó thấm nước, tránh mối mọt, hạn chế độ co ngót và bám mầu sơn tốt.

    - Sơn son thếp vàng, thếp bạc lên thân rối tạo sự hấp dẫn cho quân rối sau khi đã tạo vóc đen. Tiếp đó, nghệ nhân lại phủ thêm một lớp sơn trong rồi sau cùng là phủ lớp sơn ta để giữ cho mầu của quân rối được bền, đẹp.

    - Tạo đế cho rối và lắp máy chuyển động.

    Để con rối trở nên “có hồn” với các vận động hoạt bát, uyển chuyển, người nghệ nhân dân gian không chỉ sử dụng kỹ năng nghệ thuật trong tạo dáng vẻ đặc trưng của từng nhân vật mà còn thiết kế máy điều khiển làm cho quân rối trở nên năng động. Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đây là nét đặc trưng độc nhất vô nhị của con rối nước Việt Nam – sản phẩm của nền văn minh lúa nước. Các quân rối nước được lắp máy điều khiển, có hai loại máy điều khiển đó là: máy sào và máy dây. Các loại máy này cùng hệ thống cọc, các dây lớn dây nhỏ, dây cứng dây mềm, các sào gỗ, sào tre… ẩn dưới mặt nước của sân khấu rối làm cho các con rối thô mộc trở nên năng động, chuyển động linh hoạt, duyên dáng, cuốn hút người xem.

    Nghệ sĩ nhân dân Vương Tất Lợi – công tác tại Nhà hát múa rối Trung ương trong bài viết “Tạo hình con rối và thiết kế mỹ thuật trong việc bảo tồn và phát triển thời kỳ hội nhập” đã nhận định rằng “Con rối là vũ khí của người biểu diễn, là đạo cụ của người làm ảo thuật”. Theo tác giả, việc tạo hình quân rối và tính toán đến tính động của quân rối rất quan trọng.


    Quân rối trong tích trò “Quần nơm úp cá”

    Thực vậy, một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của trò rối chính là nghệ thuật tạo hình các quân rối. Mỗi quân rối có vẻ mặt, hình dạng, trang phục riêng thể hiện rõ đặc trưng của nhân vật: độ tuổi, giới tính, giai cấp, tính cách,… Ví dụ: Nhân vật quan trọng của các tích trò chính là người dẫn chương trình – chú Tễu, hình tượng chú Tễu được người nghệ nhân dân gian tạo tác với trang phục mặc khố, áo mặc phong phanh không đủ che vẻ ngoài béo tròn, tóc để trái đào, nụ cười sảng khoái, hả hê. Phải dựa vào sự vận động của con rối kết hợp với trang phục, với trạng thái trên khuôn mặt thì người xem mới hiểu rõ hơn được nội dung của các tích trò.

    4. Kết luận

    Những năm gần đây, múa rối nước đã được quan tâm hơn và được công chúng trong và ngoài nước yêu thích.Nhiều phường rối nước đã được khôi phục và phát triển trở lại, nội dung các tích trò đã mở rộng hơn, không còn gò bó và nhiều yếu tố mới đã được đưa vào các tích trò rối nước nhưng không làm phá vỡ giá trị truyền thống. Nhiều đoàn múa rối nước Việt Nam tham dự liên hoan múa rối quốc tế và đã đạt được nhiều giải thưởng cao. Cùng với nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật khác, Rối nước truyền thống vẫn là một trong những loại hình nghệ thuật tiêu biểu thể hiện tinh hoa sáng tạo của người Việt cần được nghiên cứu, bảo vệ, khai thác trong giáo dục văn hóa truyền thống cho các thế hệ trẻ Việt Nam để hình thành ở họ niềm tự hào dân tộc và ý thức, khả năng hành động chung tay gìn giữ di sản văn hóa đáng trân quý mà ông cha chúng ta đã để lại.

    V.T.V

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tham khảo tiếng Việt

    1. Trần Lâm Biền (2001),Đôi nét về nghệ thuật tạo hình trong nghệ thuật múa rối Việt, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 2, Hà Nội

    2. Hoàng Chương (2012), Nghệ thuật Múa rối nước Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, Tr 12 - 14.

    3. Nguyễn Huy Hồng (1974), Nghệ thuật múa rối Việt Nam, NXB. Văn Hóa, Hà Nội

    4. Trần Chí Trắc (1996), hình tượng sân khấu và sân khấu sáng tạo, Nxb Sân khấu, Hà Nội.

    Tài liệu tham khảo tiếng Anh

    1. Fan Pen Chen (2003), Shadow Theaters of the World, Asian Folklore Studies, Vol. 62, No. 1 (2003), pp. 25-64

    2. Currell, David (1992). An Introduction to Puppets and Puppetmaking. London: New Burlington Books, Quintet Publishing Limited

Share:         LinkHay.com