E-mail        Print        Font-size  
  • DROITE DE SUITE - THE RIGHT FOLLOW QUYỀN DÀNH CHO NGHỆ SĨ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT THỊ GIÁC

     JEAN FRANCOIS MILLET - The Angelus. 1857-1859. Sơn dầu. 55,5x66cm. Hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Odrsey




    Droit de suite là tên một luật về quyền tác giả và những quyền liên quan của các nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật thị giác-visual art (có loại trừ một số loại hình nghệ thuật). Đây là một đạo luật mang tính nhân văn cao cả, có cách đây hơn một nửa thế kỷ tại một trong những nôi sáng tạo nghệ thuật thế giới - nước Pháp và tiếp tục tồn tại cho đến hôm nay. Droit de suite đã, đang được áp dụng và tiếp tục xây dựng tại nhiều nước trên khắp thế giới.

    Theo ngài bộ trưởng văn hóa Pháp Renaud Donnedieu de Vabres, nhiệm kỳ 2004-2007, Droit de suite được ra đời sau sự kiện việc bán bức tranh sơn dầu có tên Angelus, kích thước 55.5 x 66 cm, 1857-1859, của họa sĩ Jean-Francois Millet, vào năm 1889 tại cuộc bán đấu giá tranh có tên Secretan sale. Luật này có tên viết tắt là DAVD SI (thường gọi là dadsi) và ngày nay luật có tên là French copyright law.

    Chúng ta có thể hiểu vài nét cơ bản về luật này thông qua ví dụ như sau: nếu một họa sĩ sáng tác ra một bức tranh thì người họa sĩ sẽ được hưởng các quyền lợi liên quan đến bức tranh đó. Nghĩa là, sau người trực tiếp mua bức tranh đầu tiên từ họa sĩ, cứ mỗi lần tiếp theo khi bức tranh đó được bán đi, người họa sĩ sẽ được trả một khoản tiền theo mức tỷ lệ phần trăm cụ thể, và quyền này được duy trì kéo dài tới 70 năm sau ngày họa sĩ mất đó là theo luật của Pháp. Theo luật của bang Califonia, Mỹ thì quyền của họa sĩ này được áp dụng trong 99 năm kể từ ngày bức tranh được công bố ra công chúng. Thời gian áp dụng quyền cho người họa sĩ này sẽ tùy thuộc vào từng quốc gia có áp dụng luật này.



    Chân dung nhà sưu tập tư bản Engefnee Secrétan người đã vận động để cho ra đời đạo luật Droit de Suite


    Xin quay trở lại câu chuyện lịch sử hình thành nên luật này. Vào một ngày mùa thu, tháng 7, năm 1889 trên phố của những người giàu có - phố Rochefoucauld đã diễn ra phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật trong bộ sưu tập của nhà tư bản công nghiệp người Pháp tên Eugène Secrétan. Ông là người nổi tiếng với việc tặng 60 tấn đồng để nước Pháp đúc bức tượng Nữ thần Tự do tặng cho nước Mỹ. Tại phiên đấu giá bức tranh có tên The Angelus của họa sĩ Millet đã được mua với giá 800,000 đồng France vàng tương đương 552,000 France. Một con số lớn khủng khiếp vào thời đó. Bên ngoài cửa phiên đấu giá, hàng chục đứa trẻ con nhếch nhác đứng xếp hàng xin tiền - một hình ảnh tương phản hoàn toàn với sự giàu có. Có một nhà sưu tập đã tiến tới chỗ những đứa trẻ và cho những đồng xu lẻ, khi đến trước mặt một đứa bé gái đứng cuối cùng, ông đã hỏi tên nó, đứa bé trả lời tên nó là “Maria…Millet”, cái tên “Millet, Millet,…” cứ vang lên trong đầu ông và ông nhớ là có bức tranh của họa sĩ tên Millet vừa được mua mức giá cực đắt. Ông quay sang hỏi kỹ đứa bé gái là bố làm nghề gì, tên là gì, đứa bé gái trả lời rằng bố nó là một họa sĩ, tên Jean-Francois Millet; bố nó đã mất; nhà đông anh chị em và rất nghèo. Lúc này ông đã nhận ra được đứa bé gái ăn xin nghèo khổ ấy chính là con gái của người họa sĩ danh tiếng... có bức tranh được bán với giá hơn nửa triệu France trong kia. Những xúc cảm về thân phận của những họa sĩ tài hoa nhưng kém may mắn như Millet đã thúc đẩy người đàn ông này mở ra một cuộc vận động không mệt mỏi với Quốc hội Pháp để rồi luật Droit de suite ra đời và được áp dụng năm 1956.



    Họa sĩ người Pháp, Jean-Francois Millet, (1814-1875), được biết đến như một họa sĩ chuyên vẽ về đề tài những người nông dân. Tranh của ông đã từng được treo tại Salon. Phong cách vẽ chính của ông là trộn lẫn giữa Realism và Naturalism. Là họa sĩ chuyên vẽ ngoài studio, nên kỹ thuật xử lý ánh sáng trên tranh của Millet cực kỳ điêu luyện. Điều này có thể thấy rất rõ trên bức tranh đã làm nên tên tuổi Millet, bức The Angelus hiện đang trưng bày tại bảo tàng Musée Odrsay. Ông sống và sáng tác chủ yếu tại ngoại ô Paris. Cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Millet chỉ đủ tằn tiện dành cho vẽ tranh và nuôi 9 người con. Đến cuối đời ông vẫn sống trong cảnh nghèo khó như bao họa sĩ cùng thời.

    Sau khi Droit de suit ra đời, tất cả những họa sĩ trên nước Pháp đã được hưởng một phần từ khoản tiền mua bán của những bức tranh trên lãnh thổ Pháp. Tại nước Mỹ xa xôi, một đạo luật có tên Califonia Resale Royalty Act chính thức áp dụng vào năm 1976. Trong đó, quy định tất cả các tác phẩm khi được bán tại Califonia hoặc bán bởi cư dân người California tại bất kỳ nơi nào với mức tổng cộng ghi trên hợp đồng từ 1,000 đô la Mỹ trở lên thì sẽ phải cộng thêm 5% trên giá bán tác phẩm. Tuy nhiên, sau 35 năm tồn tại, luật này bị tạm thời đình lại bởi một thẩm phán gốc Việt vào tháng 7/2012 do vi phạm luật thương mại liên bang. Đến cuối 2013, luật này đang được Quốc hội Mỹ xem xét thông qua trở lại. Tại châu Âu dự luật như Droit de suite đã được trình lên cộng đồng chung châu Âu từ năm 1996. Sau 10 năm thuyết phục không mệt mỏi của các tổ chức đại diện cho nghệ sĩ, đến năm 2006, luật này chính thức được áp dụng trên toàn thể các nước thuộc Eurozone. Tuy nhiên, mỗi nước có những mức độ áp dụng khác nhau về việc thực thi quyền người nghệ sĩ trong sau khi họ qua đời, có nước áp dụng 50 năm, 70 năm thậm chí là không áp dụng như nước Anh. Nước Anh được biết đến như là một trong những trung tâm buôn bán các tác phẩm nghệ thuật lớn nhất thế giới. Ngay từ khi còn là dự luật nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ nhất với lý luận của các gallery nghệ thuật hàng đầu rằng: việc áp dụng luật này sẽ làm cho các nhà buôn bán các tác phẩm nghệ thuật rời bỏ nước Anh, bởi vì giá tác phẩm tăng cao do người mua phải trả thêm các chi phí cho nghệ sĩ.



    JEAN FRANCOIS MILLET - The Gleaneers. 1857-1859. Sơn dầu. 55,5x66cm. Hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Ordsey


    Sau 5 năm áp dụng luật này tại châu Âu, thì thị trường buôn bán các tác phẩm lại tăng trưởng tốt hơn nhiều. Các nghệ sĩ trở nên hưng phấn. Và điều quan trọng là tính minh bạch về nguồn gốc các tác phẩm đã tăng cao, chống lại thị trường tranh giả - faked works. Có nhiều tổ chức hội phi lợi nhuận đại diện cho quyền lợi của các nghệ sĩ ra đời. Tại Anh, có hai tổ chức như thế này. Đến nay, nước Anh cũng đã áp dụng quyền lợi cho nghệ sĩ sau khi họ mất. Nước Úc cũng đã áp dụng luật tương tự từ năm 2009. Một con số rất ấn tượng đó là khoản phần trăm các nghệ sĩ Úc nhận về sau 3 năm triển khai luật: đó là 1,5 triệu đô la Úc đã được trả cho 650 nghệ sĩ từ 6,800 giao dịch mua bán tác phẩm. Có cá nhân họa sĩ nhận được mức cao nhất lên tới 50,000 đô la Úc. Nhìn chung, các nghệ sĩ nhận được từ 50 đến 500 đô la Úc từ mỗi giao dịch mua bán các tác phẩm của họ.

    Tại khu vực châu Á cũng đã có nhiều nước đã, đang xây dựng và áp dụng luật tương tự Droit de suite như ở Philipine. Họ áp dụng mức 5% với giá bán hoặc cho thuê tổng cộng với tranh, điêu khắc và bản thảo dành cho nghệ sĩ. Tại Hong Kong, chính quyền đã, đang trình dự luật và dự kiến thông qua sau năm 2013, mặc dù gặp không ít các phản đối dữ dội. Singapore cũng đã áp dụng luật này. Ngay tại nước bạn Lào cũng đã có và đang áp dụng hiệu quả luật tương tự dành cho các nghệ sĩ. Có một đất nước mà chiến tranh và nội chiến tại nước họ diễn ra liên miên hàng chục năm nay cũng đã kịp thông qua và áp dụng luật tương tự cho các nghệ sĩ đó là Irac. Khi chia sẻ thông tin này, giáo sư dạy Luật tại học viện nghệ thuật Sothebys thuộc nhà đấu giá Sothebys tại London đã cười rất to và giải thích: “Tôi cười ở đây là không có hàm ý gì xấu, mà chỉ không hiểu nổi một đất nước chiến tranh liên miên như họ mà cũng có thời gian để thông qua một luật như vậy”.

    Cơ sở để các nước trên thế giới có thể xây dựng và áp dụng cho mình luật này còn đến từ một công ước có tên Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works gọi tắt là Berne Convention là Công ước bảo vệ bản quyền tác giả và tác phẩm nghệ thuật. Công ước này bắt đầu có từ thế kỷ thứ 19 tại Thụy Sĩ từ năm 1886, cho đến 9/2013 đã được 167 nước tham gia làm thành viên. Bên cạnh đó các nước là thành viên của tổ chức thương mại thế giới – WTO hầu hết đều áp dụng ít nhất là một phần các điều khoản của công ước. Việt Nam chúng ta đã có luật bản quyền tác giả, và thời gian qua, từ những chia sẻ của nhiều nghệ sĩ, tôi được biết Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt do nhạc sĩ Phó Đức Phương đại diện đã hoạt động tích cực và đem lại niềm cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ từ những quyền lợi thiết thực. Đối với nhóm các tác phẩm, tác giả thuộc lĩnh vực nghệ thuật thị giác như Hội họa, Điêu khắc,…thì đến nay chúng ta vẫn chưa có được một dự luật hoàn chỉnh nào tương tự Droit de suite. Tôi đã dành thời gian 2 tháng tham gia khóa học “Hiểu về luật kinh doanh nghệ thuật” tại học viện nghệ thuật Sothebys, và đã có cơ hội được làm việc với các giáo sư và bạn bè yêu nghệ thuật. Tôi mong muốn cho Việt Nam chúng ta sẽ sớm có một dự luật như Droit de suite sẽ sớm được xây dựng. Bởi từ đây các họa sĩ, nhà điêu khắc, các nghệ sĩ sáng tạo sẽ có nhiều động lực hơn để sáng tạo. Tuy nhiên, cái được lớn hơn cả là Việt Nam chúng ta sẽ có một thị trường kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật được Luật pháp bảo vệ, và tính minh bạch nguồn gốc tác phẩm sẽ được xác lập, có như vậy các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ Việt Nam mới có cơ hội tham gia vào những thị trường nghệ thuật lớn trên thế giới như Hong Kong, Paris, London, New York…

    Nguyễn Đức Tiến

Share:         LinkHay.com