E-mail        Print        Font-size  
  • TRẦN VĂN TRÙ - NGUYỄN NGỌC DÂN: TƯƠNG ĐỒNG - TƯƠNG PHẢN

    NGUYỄN NGỌC DÂN - Phố “dây” VII. 2015. Sơn dầu







    Hai họa sĩ Trần Văn Trù và Nguyễn Ngọc Dân vừa ra mắt công chúng thủ đô một cuộc triển lãm hội họa đầy cảm động của tình thầy trò, tình đồng hương và của tình nghệ sĩ.

    Cho dù tuổi đời, môi trường sống, phong cách vẽ của hai con người ấy, bề ngoài tưởng chừng rất khác nhau, nhưng sự đồng hành của họ là rất rõ ràng, trên lề tượng hình - nhân văn của con đường nghệ thuật xa vút.

    ***

    Người họa sĩ vẽ tĩnh vật thường có một xu hướng nội tâm khá riêng biệt, thậm chí là một xu hướng nội tâm mang tính triết học, đầy ắp suy giải và suy nghiệm. Đối thoại với tĩnh vật là một cuộc đối thoại dường như tuyệt đối “im lặng”, nó đòi hỏi một độ cao “chân chính” nào đó của người vẽ.

    Trong nghệ thuật hội họa, khái niệm “tĩnh vật” xưa nay không hề chặt chẽ. “Hoa” và “Tĩnh vật”, kỳ thực khác nhau. Giữa tranh vẽ hoa và tranh vẽ tĩnh vật là một ranh giới mong manh, giống như sự phân biệt giữa tranh vẽ biển và tranh vẽ phong cảnh.




    TRẦN VĂN TRÙ - Hoa huệ. Bột màu. 53x23cm



     



    TRẦN VĂN TRÙ - Đỏ - Vàng - Xanh. 1987. Bột màu. 27.5x20.5cm


    Một số tranh vẽ “nội thất”, chẳng hạn bức tranh vẽ “Phòng ngủ” của Van Gogh - có thể được coi là tranh tĩnh vật, một thể loại “tĩnh vật lớn”.

    Tranh vẽ phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái - nhiều bức thực sự là những tranh tĩnh vật lớn.

    Có họa sĩ nhìn xuyên qua tĩnh vật để thấy được những số phận. Tĩnh vật cũng là nơi người họa sĩ đặt ra những câu hỏi về không gian và thời gian sống của một đời con người. Để tìm sự hòa đồng của mình với vạn vật, lại có họa sĩ đồng nhất tranh chân dung tự họa với tranh tĩnh vật, vẽ bản thân mình như những hòn đá, hòn cuội, những tảng gỗ lũa...

    Trần Văn Trù vẽ hoa, lá, vẽ tĩnh vật, vẽ tranh tự họa, Nguyễn Ngọc Dân vẽ dây điện, loa phường, đèn tín hiệu giao thông (những “tĩnh vật đô thị”) – đều ở trên tâm thế ấy của người vẽ. Và người thầy Trần Văn Trù là người đã truyền được cho học trò Nguyễn Ngọc Dân nhu cầu biểu hiện nội tâm xuất phát từ sự phát hiện và chọn ưu tiên đề tài.

    ***
    Họa sĩ Trần Văn Trù sinh năm 1944, quê ở làng Cam Lộ, Hải Phòng. Thân phụ ông là Trần Văn Thẻ, một cụ đồ làng nổi tiếng hay chữ. Ngoài dạy học, vẽ, Trần Văn Trù còn làm thơ.

    Xem tranh Trần Văn Trù mới thấy được hết sức mạnh hiếm có của một họa sĩ “tự học”, đặc biệt của một họa sĩ tự học sống ở một vùng quê “xa trung tâm”.



    TRẦN VĂN TRÙ - Tương quan. Bột màu. 27x39cm


     




    TRẦN VĂN TRÙ - Sen trắng. Bột màu. 27x39cm


    Là một nhà nghiên cứu Hán Nôm uyên bác, quan niệm của Trần Văn Trù về “bức tranh” đã đạt tới tầng sâu của nghệ thuật thủy mặc Trung Hoa và nghệ thuật thư pháp Á Đông cổ. Ông có lối bố cục rất lạ mắt, thường chỉ dựa trên một “sổ dọc” hoặc một “sổ ngang” (1), mà sự phong phú, uyển chuyển của hình, nét, cái linh hoạt, đột nhiên của hướng bút sẽ làm nên nhịp điệu và chuyển động của bố cục. Với Trần Văn Trù, ánh sáng trong tranh không đơn thuần là sắc độ. Ánh sáng còn được tạo ra từ sự thưa nhặt của nét, từ sự lỏng loãng, trong đục của màu, chất màu, nhất là ở các tranh màu bột. Về tạo sáng, đôi khi chỉ thu gọn trong cách ông đặt tiêu điểm.

    Sự thật, có một số tranh vẽ hoa của Trần Văn Trù đã chạm ngưỡng của nghệ thuật “thấu thị siêu nhiên” (visionnaire), chúng làm ta nhớ tới những bức tranh vẽ hoa của một Odilon Redon hay một Mondrian. Hội họa, ở đây, không phải là một phản ứng ồn ào hay là một thái cực đối với nghệ thuật hàm lâm, mà đúng hơn, đó là sự trở về với vẻ lộng lẫy kín đáo của tính cá nhân.

    Nếu thế giới tĩnh vật của Trần Văn Trù là một thế giới “hữu cơ”, của cây cỏ, hoa lá, với sức sống tiềm ẩn bên trong của tự nhiên, rì rào và bí hiểm - thì thế giới tĩnh vật của Nguyễn Ngọc Dân, một họa sĩ sinh năm 1972 - là một thế giới “vô cơ”, của dây điện, cột điện, công tơ điện, của sắt, thép, bê tông, của vật liệu công nghiệp, nơi con người truyền cho nhau đủ các dạng năng lượng, các dạng thông tin để duy trì, nuôi dưỡng đời sống vật chất và đời sống tinh thần, truyền cho nhau cả cái đẹp, cái tốt, cái sống lẫn cái xấu, cái dở, cái chết, “hiện đại hại điện”...

    Các họa sĩ trẻ thường bị cám dỗ bởi những “trò chơi kỹ thuật”, và Nguyễn Ngọc Dân không phải là một ngoại lệ. Dù sao, kỹ thuật cũng vẫn là một trong những lý do hàng đầu để giải thích về một phong cách, và một phong cách hiện đại luôn luôn gắn liền với một kỹ thuật hiện đại.




    NGUYỄN NGỌC DÂN - Phố “dây” IV. 2015. Sơn dầu




    Họa sĩ Trần Văn Trù (người bên phải) và họa sĩ Nguyễn Ngọc Dân


     



    NGUYỄN NGỌC DÂN - Phố “dây” V. 2015. Sơn dầu


    Kỹ thuật vẽ của Nguyễn Ngọc Dân dễ nhận ra về mặt nguyên lý, nhưng để thực hiện được nó không phải ai cũng làm được, chưa nói làm được như Nguyễn Ngọc Dân.

    Tranh sơn dầu của Nguyễn Ngọc Dân tựa hồ những bản khắc lõm, với những yếu tố khá triệt để của đồ họa. Trên nền sơn sáng, phẳng, đắp dày - là hằng hà sa số những đường, nét hằn sâu, mạnh mẽ, đi rất ngọt, chồng chéo lên nhau với độ chính xác gần như của toán học. Sức nặng của những sợi dây điện, của những búi dây điện, trật tự cũng như sự rối rắm của chúng - qua tài nghệ, tình cảm và những rung động xúc giác của người vẽ - hiện lên trên tranh Nguyễn Ngọc Dân vừa quen mà vừa lạ, thực mà hư.

    Biến cái thực tại bề bộn, thậm chí hỗn độn của một đời sống công nghiệp còn đang thiếu kiểm soát - thành nguồn “tư liệu riêng tư” - để từ đó tạo ra những thực thể nghệ thuật đầy sức hút, trữ tình và lãng mạn - chính là một thành công của Nguyễn Ngọc Dân.

    Nghệ thuật là tâm bất nhị. Cuộc triển lãm của Trần Văn Trù, Nguyễn Ngọc Dân - hai thầy trò, hai người bạn vong niên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật - với tiêu đề “Tâm truyền” - đã chứng minh: Nghệ thuật có thể có vô vàn phong cách, bút pháp - song, những người làm nghệ thuật vẫn có thể có chung một mục đích, một lẽ sống, một ý thức làm nghệ thuật.

    Quang Việt

    (1) “Sổ” tức là nét chữ Hán vạch thẳng từ trên xuống. Đây chỉ là cách vận dụng của riêng người viết.

Share:         LinkHay.com